LỊCH SỬ PHẬT
VIỆT
Của Thiền sư Thích Mật Thể
THỜI ĐẠI PHẬT GIÁO DU NHẬP
PHẬT GIÁO ĐỜI BẮC THUỘC (43 - 544)
Phật giáo ở Ấn Độ truyền bá đi các nước lân
cận do hai đường thủy và bộ. Về đường thủy thì qua miền Trung
Á như Mông Cổ, Tây Tạng và Trung Hoa; rồi từ Trung
Hoa qua Cao Ly và Nhật Bản. Về đường bộ thì qua đảo Tích
Lan và Java truyền vào Indonésie, Đông Dương và
Trung Hoa. Nước ta ở vào giữa hai con đường ấy. Vậy Phật giáo
truyền đến đâu và từ đời nào, ta phải khảo lấy mấy thuyết
sau này:
1.- Những sách của các nhà sư Việt Nam viết
từ thế kỷ thứ 13 và 14 có chép: "Chính đời nhà
Hán (thế kỷ thứ 2 và thứ 3) đã có các
đạo sĩ ở Bắc như ông Ma-ha-kỳ-vực (Mârijivaka), Khương Tăng Hội
(K’ang-song-hoeuei) và Mâu Bác (Meou-pô), ngài
thì do theo đường thủy, ngài thì đường bộ mà
đến truyền giáo ở nước Việt Nam ta".
2.- Sách Ngô Chí của Trung Hoa chép:
"Sĩ Nhiếp là một vị Thứ sử có oai quyền ở Giao Châu,
được dân bản xứ tôn kính, khi ra đi người ta thường nghe
có tiếng kiểng lẫn tiếng trống kèn, bọn rợ Hồ đi theo thắp
hương hai bên xe có từng đoàn mười người..."
Theo ông Sylvain-levi kê cứu, thì Hồ là
một thứ tiếng riêng của người Trung Hoa về thế kỷ thứ 3 dùng
để chỉ bọn người phương Tây. Vậy Hồ đây có lẽ là
người Trung Á hay người Ấn Độ.
3.- Truyện Đàm Thiên Pháp sư có chép:
Vua Cao Tổ nhà Tùy bảo Pháp sư rằng: "Trẫm nghĩ đạo
Từ bi của đức Điều Ngự, không biết báo ơn thế nào cho
phải, Trẫm lạm giữ ngôi dân chủ, muốn rộng truyền đạo Tam bảo,
đã thu khắp di hài Xá-lỵ, lập được 49 ngọn Bảo tháp
trong nước để làm tiêu biểu cho Đạo và làm được
hơn 150 ngôi chùa rồi. Bây giờ Trẫm lại muốn lập Chùa
dựng Tháp khắp Giao Châu (danh hiệu nước Việt Nam từ đời Bắc
thuộc) để cho đạo đức nhuần khắp thế giới. Cõi Giao Châu tuy
nội thuộc nước ta mà xa xôi quá, vậy Pháp sư nên
tuyển lấy các thầy Sa-môn đức hạnh, sang mà hoằng hóa
cho dân ấy, để hết thảy chúng sinh đều biết đạo Bồ-đề". Pháp
sư liền tâu: "Cõi Giao Châu có đường thông
sang Thiên Trúc gần hơn ta. Khi Phật giáo chưa du nhập
vào đất Giang Đông ta. mà ở cõi ấy đã xây
dựng được hơn 20 ngọn Bảo tháp, độ được hơn 500 Tăng sĩ, dịch được
15 bộ kinh rồi. Vì ở bên ấy gần nước Phật hơn ta. Bấy giờ có
các vị Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu
Bác đến ở truyền đạo... Ngài muốn bố thí một cách
bình đẳng, phái chư Tăng sang truyền đạo, nhưng ở đó
họ đã có đủ rồi, ta không cần phải sang nữa".
4.- Sách Pháp vụ thực lục chép: "Vào
hồi thế kỷ thứ ba có một ông tên là Kaudra gốc
ở Đông ấn, gióng Brahmanes qua Giao Châu một lần với ông
Ma-ha-kỳ-vực..."
Cứ theo mấy dẫn chứng trên đều thấy hợp nhau và cùng
thấy mấy ngài Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu
Bác là bậc truyền đạo đầu tiên ở nước ta.
a.- Ma-ha-kỳ-vực (Mârajivaka hay là Jivaka):
Trong sách Cao Tăng truyện có chép: "ông
Ma-ha-kỳ-vực gốc ở Ấn Độ, đi du lịch các nước bắt đầu từ Ấn Độ đến
Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (Bắc kỳ và
Quảng Đông bây giờ); qua nơi nào ngài cũng làm
phép lạ. Khi đến Tương Dương, muốn qua đò, nhưng người lái
đò thấy ngài quần áo rách rưới không cho
xuống, đến khi đò ngang cặp bến thì mọi người đều lấy làm
lạ thấy ngài đã ở bên này sông rồi".
Cuối đời Huệ Đế nhà Tấn (290- 306) nước Trung Hoa có
loạn, ngài lại trở về Ấn Độ, Ngài tịch năm nào không
rõ.
Trong sách Phật tổ lịch đại thống tải chép: "Ông
Ma-ha-kỳ-vực đến Lạc Dương vào niên hiệu thứ tư đời Tấn Huệ
Đế (294 sau Tây lịch)". Trước khi đến Lạc Dương, ngài có
qua Giao Châu và Quảng Châu.
b.- Khương Tăng Hội (K’ang-seng-houei)
Trong sách Lương Cao Tăng truyện của Huệ Hao chép:
"Một người nước Khương tên là Tăng Hội, gốc ở Khương Cư (Soadiane),
mấy đời tổ tiên ngụ ở Thiên Trúc. Phụ thân ngài
có qua buôn bán ở Giao Châu. Ngài mồ côi
cha mẹ từ thuở lên mười. Sau thời kỳ cư tang, ngài xuất gia,
chăm lo học tập kinh điển đã trở nên một đạo sĩ khá cao
thời ấy. Ngài tính tình chân thật, hòa
nhã và rất thông minh; không những ngài
thông hiểu Tam tạng lục kinh, mà ngài còn nghiên
cứu cả toán số, thiên văn đến văn chương và chính
trị.
Bấy giờ về đời Ngô Tôn Quyền (229 - 252) Phật giáo
mới truyền vào Đông Ngô, nhưng chưa được phát triển
mạnh, ngài tới đó liền hết sức tuyên dương Phật pháp
khắp miền Giang Tả; ngài thường cầm gậy tầm xích đi hành
hóa khắp phía Đông. Niên hiệu Xích Ô
năm thứ hai đời nhà Ngô (247), ngài đến thành
Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) làm một túp lều ở đó
tu trì và thiết trường giảng dạy. Vua Ngô Tôn Quyền
thấy ngài thi nhiều phép lạ lấy làm ngạc nhiên,
đem lòng tín phục và xây tháp dựng chùa
ngài ở gọi là chùa Kiến Sơ, chỗ ngài ở thì
gọi là Phật-da-lý. Từ đó Phật giáo mới thạnh
hành trong miền Giang Tả.
Ngài có dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán.
Ngài tịch vào khoảng niên hiệu Thiên Kỷ thứ tư
nhà Ngô (280 sau Thiên chúa).
c.- Chi Cương Lương (Tche-kiang-leang):
Trong một bài khảo về bản dịch "Thập nhị du kinh" của ông
Pelliot có dẫn lời ông Phí Trường Phòng trong
sách Lịch đại tam bảo ký rằng: "Đời vua Võ Đế nhà
Tấn (265 - 290) có ông Cương Lương Lâu Chí dịch
kinh Chân Hỷ ở đất Quảng châu vào khoảng niên hiệu
Thái Thụy (266)".
Lại trong một bản Kinh Tịch chí, ông Nanjio có
dẫn đến một ông tên là Chi Cương Lương tiếp dịch kinh
ở đất Giao Châu. Theo ông Pelliot kê cứu thì hai
ông ấy chỉ là một người. Cương Lương Lâu Chí chữ
Phạn viết Kalyana ruci, theo sự khảo cứu của Trần Văn Giáp tiên
sanh trường Bác Cổ Viễn Đông.
d.- Mâu Bác (Méou-pô):
Theo ông Pelliot khảo cứu trong sách Mâu Tử
lý hoặc thì Mâu Bác hay Mâu Tử cũng là
một. Ngài người quận Thương Ngô tức Ngô Châu bây
giờ. Sau khi vua Hán Linh Đế mất (189) ngài theo mẹ qua ở Giao
Châu. Bấy giờ nước Trung Hoa rối loạn, các sĩ phu tránh
qua đất Giao Châu rất đông, có nhiều người theo đạo Lão
học phép tiên.
Ngài thường cùng đạo sĩ biện luận, nhiều khi họ
không trả lời được những nghi vấn của ngài; ngài liền
phát tâm theo Phật giáo. Theo ông Pelliot kê
cứu thì ngài Mâu Bác sanh vào khoảng năm
165 - 170 Tây lịch.
Ta thấy bốn ngài truyền Phật đạo ấy, một ngài là
người Trung Hoa (Mâu Bác) còn là người Ấn Độ cả.
Và so niên đại thì ta thấy ngài Mâu Bác
là người truyền Phật giáo ở đất Giao Châu sớm nhất: năm
189 sau Tây lịch kỷ nguyên. Vậy ta có thể kết luận: Phật
giáo du nhập vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ
hai.
(Ngoài ra lại có thuyết nói Phật giáo
truyền vào Giao Châu từ thế kỷ đầu, ngang với khi Phật giáo
du nhập vào Trung Quốc (67 Tây lịch); hoặc giả đó là
do Giao Châu bấy giờ ở vào giữa con đường của các nhà
truyền đạo, hoặc khách buôn bán của ấn Độ Chi Na qua
lại với nhau, có ghé, nhưng không ở nhất định để truyền
giáo, nên không còn di tích gì chăng?
Vì theo ông Sylvain và ông Pelliot kê cứu
thì Trung Quốc và ấn Độ giao hảo với nhau từ năm 245 trước
Thiên Chúa giáng sinh đến thế kỷ thứ bảy đều lấy đất
Giao Chỉ, Giao Châu làm trung gian. Bọn du khách qua
lại phải đi ngang qua Bắc Kỳ bấy giờ và bể Nam Hải. Như vậy ta có
thể đoán đó chỉ là những nhà đạo sĩ và
những người buôn bán sùng đạo Phật mới đem tín
ngưỡng đến xứ này về thời ấy, chứ chưa hẳn là truyền bá
giáo lý).
Ở bên Trung Hoa từ sau khi vua Hán Linh Đế mất, chính
trị trong nước rối ren, những cuộc nội loạn bắt đầu sửa soạn cái loạn
Tam quốc sau này, thì đất Giao Châu được yên ổn
dưới quyền chính trị của Thái thú Sĩ Nhiếp (187-122).
Trong sách Mâu Tử ký chép: "Sau khi
Hán Linh Đế mất, trong nước rối loạn, chỉ có đất Giao Châu
là tạm yên, nên những sĩ phu đều sang tránh loạn
ở đó. Nhiều nhà đạo sĩ mang truyền các ngoại đạo như
Thần đạo, Tiên đạo, Trường sanh đạo..." mà Mâu Bác
lại qui y Phật giáo sau khi đã khảo về Lão giáo
(theo sách Mâu Tử Lý hoặc).
Vào khoảng năm 194 - 295 ông Mâu Tử sang Giao
châu tự khảo Phật đạo và truyền đạo. Những người Trung Hoa khác
cũng bắt chước.
Xét theo mấy dẫn chứng trên và trở lại dẫn
chứng thứ hai đầu mục này, ta có thể biết đại khái Phật
giáo ở ta về cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba; hồi
ấy đất Giao Châu đã có dư luận về đạo Phật ở trong đám
nhân gian bởi những người Trung Hoa và người Ấn Độ. Nhưng chẳng
qua đó chỉ là từng khu vực thôi, chớ sự thật vị tất dân
nước đã biết hết.
Nhưng theo lời Đàm Thiên (dẫn chứng thứ ba chương
này) thì nước ta cũng đã dựng chùa, xây
tháp đến 20 ngọn, Tăng sĩ đến 500 người và kinh dịch đã
lược 15 bộ. Dịch kinh thì có ngài Khương Tăng Hội dịch
chữ Phạn ra chữ Hán - thời ấy ta đã có theo học chữ
Hán rồi - vào đầu thế kỷ thứ ba; bấy giờ Giao Châu nội
thuộc Đông Ngô.
Năm 225 - 226 cũng có một người nước Nhục Chi (Indoscythé)
tên là Kalyânaruci tới Giao Châu, dịch kinh Pháp
Hoa Tam Muội.
Tuy nhiên ở Giao châu từ ấy đến hết thời Bắc thuộc
lần thứ 2 (43 - 544) sang đến nhà Tiền Lý (544-548) rồi đến
đầu đời Bắc thuộc lần thứ ba (603-939) Phật giáo vẫn còn ở
thời kỳ phôi thai, tuy có Tăng sĩ, có chùa, nhưng
đó mới chỉ là một điều kiện tôn giáo tín
ngưỡng thôi. Vì bấy giờ ta ảnh hưởng trực tiếp với Ấn Độ hơn
là với Trung Hoa; bởi vậy trong một thời gian khá dài
ấy, ngoài mấy người Ấn Độ thông chữ Hán dịch kinh, còn
không thấy ai dịch nữa và cũng chẳng có một ai sang Trung
Hoa cầu kinh chữ Hán, nên Phật giáo trong thời ấy có
lẽ chỉ là hình thức hơn là tinh thần. Cũng là
bởi từ khi Phật giáo du nhập nước ta (khoảng năm 194 - 195) ta còn
nội thuộc nước Trung Hoa đến năm 544, những nhà cầm quyền của chính
phủ đô hộ, không chính thức nhận Phật giáo cho
người bản xứ thờ làm một tôn giáo đặc biệt, nên
không chính thức ủng hộ.
PHẬT GIÁO ĐỜI HẬU LÝ
NAM ĐẾ (571 - 602)
VÀ ĐỜI BẮC THUỘC THỨ BA (603 - 939)
Tiền Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục nối nghiệp xưa là
Triệu Việt Vương (549-571), rồi lại bị Lý Phật Tử đánh thua
và lên làm vua tức Hậu Lý Nam Đế.
Đến năm Nhâm Tuất (602), vua nhà Tùy là
Văn Đế sai tướng Lưu Phương sang đánh Nam Việt, dụ Phật Tử ra hàng.
Hậu Lý Nam Đế yếu thế bèn qui phục, nước ta lại bắt đầu nội
thuộc nước Trung Hoa lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939.
Trong năm 580, nước ta có ngài Tì Ni Đa Lưu
Chi qua truyền Phật giáo, rồi lần lần truyền thống thành ra
một phái Thiền Tôn.
1.- Phái TÌ NI ĐA LƯU CHI
Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật Bổn Hạnh
ngữ lục có chép: "Vào khoảng đời Đông Tấn (317
- 419) niên hiệu Tả Kiến (569 - 582), có một Pháp sư
tên là Tì Ni Da Lưu Chi người Ấn Độ, nhận biết có
Phật giáo ở đây (Nam Việt) liền qua trú ở chùa
Pháp Vân giảng dạy Phật pháp. Phật giáo ở đây
thạnh hành từ đó".
Sách Đại Nam Thuyền Uyển Tập Anh cũng có dẫn lời
ngài Thông Biện Thiền sư nói: Tì Ni Đa Lưu Chi
là Sơ tổ của Thiền Tôn ở nước ta.
Ngài tên chữ Phạn là Vinitaruei, người ở Nam
Thiên Trúc, sang Tây Thiên Trúc để khảo đạo
Phật, nhưng vì cơ duyên chưa gặp, nên ngài qua
cõi Đông Độ tiến vào Trung Hoa đến Trường An năm 574.
Lúc này Phật giáo ở Trung Hoa đương bị bài xích.
Ngài muốn qua đất Nghiệp (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) may gặp
ngài Đệ Tam tổ Tăng Xàng ở núi Tư Không, ngài
liền đem lòng kính mộ và xin làm đệ tử; Tam tổ
truyền tâm ấn cho và khuyên ngài qua Nam phương
mà tiếp độ chúng sinh chớ không nên ở đây
làm gì Ngài liền bái từ ra đi. Đến Quảng Châu
ngài Trú trì ở chùa Chế Chỉ, dịch kinh "Tượng
Đầu báo nghiệp sai biệt" chữ Phạn ra chữ Hán. Đến năm Canh
Tý niên hiệu Đại Tường thứ hai nhà Chu (580), ngài
qua Nam Việt trú trì ở chùa Pháp Vân (làng
Văn Giáp, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông bây
giờ) lại dịch bộ kinh "Tổng trì". Năm Quý Sửu niên hiệu
Khai Hoàng thứ 14 nhà Tùy (594) ngài truyền tâm
ấn cho ngài Pháp Hiền rồi tịch.
Đến đời nhà Lý, vua Thái Tôn (l028
- l054) có làm bài kệ truy tán ngài rằng:
Sáng tự Nam lai quốc,
Văn quân cửu tập thiền.
Ứng khai chư Phật tín,
Viễn hợp nhất tâm nguyên.
Hạo hạo Lăng-già nguyệt,
Phân phân bát-nhã liên.
Hà thời hạnh tương kiến,
Tương dự thoại trùng huyền.
Dịch:
Mở lối qua Nam Việt,
Nghe ông chỉn học Thiền.
Nguồn tâm thông một mạch,
Cõi Phật rộng quanh miền.
Lăng-già ngời bóng nguyệt,
Bát-nhã nức mùi sen.
Biết được bao giờ gặp,
Cùng nhau kể đạo huyền.
Ngài là Sơ tổ phái Thiền Tôn thứ nhất
ở nước ta, sau ngài truyền pháp cho Pháp Hiền Thiền
sư, rồi truyền thống mãi đến đời Y Sơn Thiền sư (1216) được 19 đời,
biết được danh hiệu và sự tích cọng 31 ngài. Xét
ngược lên về trước thì ngài là đệ tử đức Tam tổ
Tăng Xáng. Ngài Tăng Xáng là đệ tử của đức Nhị
tổ Huệ Khả và ngài Huệ Khả là đệ tử của đức Bồ-đề Đạt-ma
(Bodhidharma), tức là Sơ tổ phái Thiền tôn ở Trung Hoa
vậy .
- Pháp Hiền Thiền sư:
Nhị tổ phái Thiền Tôn ở nước ta là Pháp
Hiền Thiền sư. Ngài dòng họ Đỗ, quê ở quận Chu Diên
(tỉnh Sơn Tây bây giờ), khi mới xuất gia, thọ giới với Quang
Duyên đại sư ở chùa Pháp Vân. Đến khi ngài
Tì Ni Đa Lưu Chi ở Quảng Châu qua nước ta tới chùa Pháp
Vân thấy ngài Pháp Hiền nhìn kỹ vào mặt
mà nói:
- Chú họ gì?
Pháp Hiền đáp:
- Hòa thượng họ gì?
Thiền sư lại hỏi lại:
- Chú không có họ à?
- Sao lại không có? Nhưng đố Hòa thượng biết?
Thiền sư quát lên:
- Biết để làm gì?
Ngài Pháp Hiền chợt hiểu ý ngài Tì
Ni Đa Lưu Chi, liền sụp xuống lạy xin theo làm đệ tử và sau
được truyền tâm ấn.
Sau ngài vào trong núi Từ Sơn tu Thiền định,
những loài cầm thú thường quấn quít chung quanh, người
đời thấy thế càng lấy làm lạ và kính mộ; đệ tử
tìm đến học đạo càng ngày càng đông, ngài
mới lập tịnh xá để giảng dạy. Phái Thiền tôn ở nước ta
hồi ấy là thạnh nhất.
Ngài Pháp Hiền tịch vào năm Võ Đức
thứ 9 đời Đường (626) và truyền đạo cho ngài Thanh Biện Thiền
sư.
Xét ra nước ta Phật giáo truyền vào đã
hơn bốn trăm năm nay, mà mãi đến thời kỳ này mới được
phổ thông. Ấy cũng là nhờ ở ngài Tì Ni Đa Lưu
Chi và ngài Pháp Hiền. Nhưng âu cũng là
cơ duyên đặc biệt, nên ngài Tì Ni Đa Lưu Chi mới
vâng lời ngài Tam tổ Tăng Xáng mà qua truyền pháp
ở phương Nam này.
Phật giáo đã đến hồi thịnh, nên bấy giờ (vào
khoảng năm 603 - 604) Thứ sử Giao Châu là Lưu Phương mới đưa
sớ về tâu dâng vua Tùy rằng: "Nước Việt Nam ngày
nay dân chúng rất tôn sùng Phật giáo, lại
có nhiều vị Chân Tăng giáo hóa, nên bốn
phương thảy đều qui y...". Nhân đó, vua Cao Tổ nhà Tùy
mới ban cho các vị Danh Tăng ở nước ta năm hòm lễ vật và
sắc xây tháp ở chùa Pháp Vân, chùa
Tràng Khánh cùng các danh địa khác. Đó
là lần đầu tiên Phật giáo ở nước ta được Chánh
phủ đô hộ để ý đến.
Bên Trung Hoa, năm Mậu Dần (618) nhà Tùy mất,
nhà Đường kế nghiệp, nước ta lại thuộc nhà Đường và
bị chia ra làm 12 châu, gọi gồm là An-nam đô hộ
phủ. Trong mấy thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bị nhà Đường cai trị nghiệt
hơn cả. Nhưng về phương diện Phật giáo lại được để ý đến; như
năm Võ Đức (626), Vua Đường Cao Tổ có ban cho An-nam năm hòm
Xá-lỵ (?) và sắc dựng chùa, xây tháp.
Xem thế đủ biết Phật giáo ở ta bấy giờ đã thịnh.
Vả lại Nhị tổ Thiền tôn là Pháp Hiền Thiền sư vừa mới
tịch và đã độ cho bao nhiêu đệ tử rồi. Lại trong thời
ấy Phật giáo bên Trung Hoa và người Thiên Trúc
thường thường mượn đường nước ta mà qua lại, các người thường
ghé lại ít lâu để thuyết pháp thì ta cũng
chịu ảnh hưởng được nhiều vậy.
Lại theo Trần Văn Giáp tiên sanh khảo trong các
sách thấy có nói: "Về đời Đường có ba đoàn
truyền giáo ở An-nam. Đoàn thứ nhất có ba người Trung
Hoa, đoàn thứ hai cũng có ba người Trung Hoa và là
người Trung á; đoàn thứ ba đáng chú ý
hơn: có 6 Pháp sư An-nam mà bốn người ở Giao Châu
(Hà Nội và Nam Định bấy giờ) và hai người ở ái
Châu (Thanh Hóa bây giờ)".
I.- Đoàn thứ nhất:
1.- Minh Viễn Pháp sư: Người ở huyện Thanh Thành,
Ích Châu (Tứ Xuyên bây giờ), tên hiệu chữ
Phạn của ngài là Chấn-đà-đề-bà. Thuở nhỏ ngài
đã học kinh Phật, càng lớn càng chăm chỉ nên ngài
am hiểu tất cả những kinh điển, ngài lại khảo về Trang Chu. Ngài
ẩn ở Lô Sơn (Hồ Bắc bây giờ) để tu thiền định.
Sau ngài thấy đạo Phật ở đó có ý đình
trệ, ngài liền xuống phía Nam qua đất Giao Chỉ (Bắc kỳ) đến
đảo Java rồi qua đảo Tích Lan đến Nam Thiên Trúc; sau
ngài tịch ở dọc đường, không rõ ngài thọ bao nhiêu
tuổi.
2.- Huệ Mạnh Thiền sư: Ngài ở quận Giang Lăng, Kinh Châu
(Hồ Bắc) rất tinh thông Phật pháp. Ngài muốn qua Chiêm
Thành, nhưng khi đi đò gặp giông tố, nên phải ở
lại Thượng kinh (biên giới cũ Trung kỳ) rồi trở về Trung Hoa.
3.- Vô Hành Thiền sư: Ngài cũng ở quận Giang
Lăng, tên hiệu chữ Phạn là Bát-nhã Đề-bà
(Pajnâ-deva). Sau khi du lịch khắp Trung Quốc, ngài về ẩn tu
trong núi, chuyên trì kinh Pháp Hoa tam muội.
Sau ngài lại du lịch các miền Cửu Giang và Tam Việt
(Ngô Việt, Nam Việt). Ngài có kết giao với Trí
Hoằng Thiền sư rồi qua đất Thất Lợi Phật Thệ (cusijaya). Ngài thọ
được 56 tuổi.
II.- Đoàn thứ hai:
1.- Đàm Nhuận Pháp sư: Ngài ở Lạc Dương,
tinh thông luật điển. Ngài qua sông Dương Tử lần xuống
phía Nam, đến đất Giao Chỉ có trú lại ít lâu,
được các thiện nam tín nữ sùng mộ rất đông. Rồi
ngài lại xuôi về phía Nam Định qua Thiên Trúc,
nhưng vừa đến Đột Bồn (Java) thì thọ bịnh rồi tịch, thọ 30 tuổi.
2.- Trí Hoằng Pháp sư: Ngài ở Lỗ Giang, cháu
ông sứ giả Vương Huyền Sách, lúc nhỏ đã thông
hiểu đạo Phật, lớn lên đi du lịch khắp Trung Quốc, sau lại muốn qua
Đông Ấn, gặp Vô Hành Thiền sư cùng đến Hợp Phố
(bán đảo Quảng Đông) rồi xuống thuyền dọc theo đường bể, không
may gặp bão phải đậu lại Thượng Kinh, hai ngài bèn đi
ngược lên Giao Châu ở lại một năm. Sau gặp một chiếc thuyền lớn,
hai người bèn về xứ Thất Lợi Phật Thệ. Ngài ở Trung ấn Độ gần
8 năm, sau qua xứ Cachemira Bắc ấn Độ rồi không rõ ngài
tịch ở đâu.
3.- Tăng-già-bạt-ma (Samyhavamla): Ngài ở nước Khương
Cư, lúc nhỏ đi chân qua bãi sa mạc đến kinh đô.
Khoảng năm Hiển Khánh (656 - 660) được sắc lệnh theo một sứ giả qua
Tây phương đến Bồ-đề đạo tràng, được dự yến gần bên Kim
Cang tòa (Vajrâsana). Sau trở về Trung Quốc được chỉ dụ qua
Giao Chỉ tìm các bảo vật. Lúc này Giao Chỉ đương
bị nạn mất mùa đói kém, ngài bèn hợp sức
cùng quan địa phương ngày nào cũng phát chẩn
cho dân, nhưng không thể chu cấp hết được; ngài động lòng
từ bi thường rơi lệ chan chứa. Dân bản xứ bấy giờ gọi ngài là
"vị Bồ-tát hay khóc". Ngài thọ được 69 tuổi.
III.- Đoàn thứ ba:
1.- Vân Kỳ Thiền sư: Ngài ở Giao Châu, thường
đi du lịch với ngài Đàm Nhuận, thông hiểu chữ Phạn, có
trú ở Thất Lợi Phật-xá. Ngài thọ chừng 30 tuổi.
2.- Mộc-xoa Đề-bà: Ngài cũng người Giao Châu,
không rõ tên thật là gì, đã từng
vượt Nam hải đi khắp các xứ Khi đến Bồ-đề đạo tràng ngài
cúng dường Xá lợi Phật rồi tịch, thọ được 25 tuổi.
3.- Khuy Xung Pháp sư: Ngài cũng ở Giao Châu,
đệ tử của ngài Minh Viễn, tên chữ Phạn là Chất-đát-
la-đề-bà (Citra-deva). Cùng ngài Minh Viễn đi đường
biển tới đảo Tích Lan rồi qua Tây Ấn gặp ngài Huyền Chiếu,
lại qua Trung ấn. Ngài bẩm tính thông minh và
bặt thiệp, hiểu hết các kinh điểm chữ Phạn. Khi đến thành Vương-xá
(Kucâgârapuca), sau khi tham yết Bồ-đề-thọ, ngài lâm
bịnh và tịch trong vườn Trúc Lâm, thọ 30 tuổi.
4.- Huệ Diệm Pháp sư: Ngài cũng ở Giao Châu,
đệ tử của ngài Vô Hành đi qua Tích Lan rồi trú
luôn ở đó, ngài tịch vào năm nào không
rõ.
5. Trí Hành Thiền sư: Ngài ở Ái Châu,
tên chữ Phạn là Bát-nhã-đề-bà (Prajnâ-deva).
Ngài qua Trung ấn và hành hóa khắp nơi. Khi đến
Bắc-kinh-già (Ganga), ngài nghỉ luôn ở chùa Tín
Già và tịch ở đó, thọ 50 tuổi.
6.- Đại Thặng Đăng Thiền sư: Ngài cũng ở Ái Châu,
tên chữ Phạn là Ma-ha-gia-na Bát-địa-dĩ-ba (Mahâyâna
- Pradipa). Lúc nhỏ ngài đi theo cha mẹ qua xứ Đỗ-hòa
la-bát-để (Dvâravati). Sau được đi theo sứ giả là Diện
Tự về kinh đô Trung Quốc, thọ giới với ngài Đường Huyền Trang.
Ngài thông hiểu nhiều kinh điển, quyết chí đến Bồ-đề
đạo tràng tham lễ, nên muốn vượt bể qua Thiên Trúc.
Ngài qua Tích Lan, qua Đông ấn, Nam ấn rồi nghỉ ở xứ
Đam-ma-lập-để (Tamralipti) mười hai năm; nhơn thế mà ngài được
thông hiểu tiếng Phạn. Ngài có thích nghĩa bộ
Duyên sanh luận (Nidânacastra) và nhiều kinh khác.
Rồi ngài cùng đi với ngài Nghĩa Tịnh đến Trung Ấn thăm
chùa Na Lan Đà (Nalandâ) rồi đến viếng Kim Cang tọa và
trở về Tỳ-xá-lỵ (Vaicâly), sau lại qua nước Cu-chi với ngài
Vô Hành. Sau ngài tịch ở chùa Bát Niết-bàn
(Parinirvâna), thọ 60 tuổi.
Xem như vậy ta thấy Phật giáo ở Việt Nam về đời Bắc thuộc
này có thể gọi là thịnh. Trong xứ đã nhiều Pháp
sư Trung Hoa và Ấn Độ qua lại giáo hóa, nên ta
mới có nhiều ngài ngộ đạo và chịu khổ đến tìm
tận nơi Phật địa để tầm đạo như vậy. Nước ta về thời ấy làm trung
gian cho Trung Hoa và Ấn Độ lại có cái lợi này:
Hồi ấy dân Chàm còn mạnh lại ở gần ta, họ lại dùng
chữ Phạn làm văn tự và thông hiểu cả tiếng Da-va (Java),
nên ta cũng có nhiều người giao thiệp với họ, cũng hiểu hai
thứ chữ đó. Bởi thế, những người Trung Hoa qua Ấn Độ và người
Ấn Độ qua Trung Hoa, khi tới Giao châu, thường tìm người nước
ta làm thông ngôn hoặc cộng tác dịch kinh chữ Phạn.
Như vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nhiều kinh điển
về bản cựu dịch hoặc tân dịch đều dịch lần đầu tại An-nam.
Tiếc thay hồi ấy ta chỉ có những nhà tầm đạo, ngộ
đạo dịch kinh mà lại không có mấy ai có óc
phát triển hoặc bổ luận trước tác để góp thêm
sách vào kho kinh điển nhà Phật ở xứ mình.
Tuy nhiên, Phật giáo ở nước ta càng ngày
càng được chính phủ đô hộ biệt đãi và chú
ý. Dân tộc Trung Hoa từ ấy đã bớt cho người mình
là một thứ mọi rợ man di nữa; đó cũng là nhờ ở mấy vị
Cao Tăng. Xem trong sách Kiến văn lục của Quế Đường tiên sanh
(Lê Quí Đôn) có trích được mấy bài
thơ của mấy đại thi hào đời Đường, xướng họa với mấy vị Cao Tăng nước
ta khi các ngài qua Trung Quốc thì đủ biết. Mấy bài
này ở sách Loại hàm Anh ngữ của Trung Quốc cũng thấy
chép.
1.- Nhật Nam Tăng: chỉ biết ngài người quận Nhật Nam chớ
không rõ tôn hiệu là chi. Khi ngài trú
trì ở một ngôi chùa trong hang núi ở Trung Hoa,
thi hào Trương Tịch đề tặng một bài thơ:
Sơn Trung tặng Nhật Nam Tăng.
Độc hướng song phong lão.
Tùng môn bế lưỡng nhai.
Phiên kinh thượng tiêu diệp,
Quái nạp lạc đằng hoa.
Thứu thạch tân khai tỉnh,
Xuyên lâm tự chủng ma.
Thời phùng Nam hải khách,
Man ngữ vấn thùy gia ?
Dịch:
Núi thẳm một mình ẩn,
Cửa tùng đôi cánh gài.
Lá chuối biên kinh cũ,
Bông mây rụng áo dài,
Lật đá khơi ngòi giếng,
Xoi rừng tỉa giống gai.
Khi gặp khách Nam Hải
Tiếng Mường biệt hỏi ai ?
2.- Vô Ngại Thượng nhơn: Ngài tu ở chùa Sơn
Tĩnh hạt Cửu Châu (Thanh hóa). Bấy giờ là thời vua Võ
Hậu nhà Đường (685) có thi hào Trầm Thuyên Kỳ
qua An-nam chơi, có đến yết kiến Thượng nhân, tự xưng làm
đệ tử, sau có làm bài thơ lưu giản để tỏ lòng
khen ngợi kính phục ngài:
Yết Cửu Châu Sơn Tỉnh Tự Vô Ngại Thượng Nhân.
Đại sĩ sanh Thiên Trúc,
Phân thân hóa Nhật Nam.
Nhơn trung xuất phiền não,
Sơn hạ tức Già-lam.
Tiểu giản hương vi sát,
Nguy phong thạch tác am.
Hầu thuyền thanh cốc nhũ,
Khuy giảng bạch viên tham.
Đằng ái vân gian bích,
Hoa thê thạch hạ đàm.
Tuyền hành u cung hảo,
Lâm quài dục y kham.
Đệ tử ai vô thức,
Y vương tích vị đàm.
Siêu nhiên hỗ khê tịch,
Chích thọ hạ hư lam.
Dịch:
Phật xưa sinh ở Tây Thiên,
Mà nay xuất hiện ở miền Nhật Nam.
Thoát vòng phiền não cõi phàm,
Thảnh thơi dưới núi Già-lam một toà.
Ngọn khe chóp núi lân la,
Hương là Cố sát, đá là thần am.
Chim xanh chực, vượn trắng dòm,
Sớm mai giảng kệ, chiều hôm tham thiền.
Mấy từng mây quấn đá chen,
Dây leo chân vách, hoa lên mặt đầm.
Thiên nhiên sẵn thú tuyền lâm,
Rừng phơi áo giặt suối dầm nước hương.
Phận hèn học kém đáng thương,
Tiếc vì chưa hiểu Y vương thế nào.
Hỗ khê một bữa may sao,
Dầu non đỗ xuống cây cao một cành.
3.- Phụng Đình Pháp sư: Ngài sang Trung Quốc
giảng kinh ở trong cung vua Đường, khi về có đại thi hào Dương
Cự Nguyên tặng một bài thơ tiễn biệt:
Tống Phụng Đình Pháp sư qui An-nam.
Cố hương Nam Việt ngoại,
Vạn lý bạch vân phong.
Kinh luận từ thiên khứ,
Hương hoa nhập hải phùng.
Lộ đào thanh phạm triệt,
Thần các hóa thành trùng.
Tâm đáo Trường An mạch,
Giao Châu hậu dạ chung.
Dịch:
Quê nhà trông cõi Việt,
Mây bạc tít mù xa.
Cửa trời vắng kinh kệ,
Mặt bể nổi hương hoa.
Sóng gợn cò im bóng,
Thành xây hết mấy tòa.
Trường An lòng quấn quít,
Giao Châu chuông đêm tà...
4.- Duy Giám Pháp sư: Ngài cũng sang Trung
Quốc giảng kinh trong cung vua Đường, ngài ở lâu năm, già
mới về cố hương. Thi hào Cổ Đảo có bài thơ tiễn biệt:
Tống An-nam Duy Giám Pháp sư:
Giảng kinh xuân điện lý,
Hoa nhiễu ngự sàng phi.
Nam hải kỷ hồi quá,
Cựu sơn lâm lão qui.
Xúc phong hương tổn ấn,
Lộ vũ khánh sanh y.
Không thủy ký như bỉ,
Vãng lai tiêu tức hy.
Dịch:
Điện xuân giảng kinh luận,
Giường ngự vướng mùi hoa.
Bể nam quen lối cũ,
Non Việt viếng tuần già.
Án mòn khi gió táp,
Áo lấm lúc mưa sa.
Kìa kìa trời lẫn nước,
Tin tức biết bao xa.
Xem đó, ta lại biết thêm đại khái Phật giáo
ở nước ta về thời thuộc Đường Tăng già An-nam mà được sang
giảng kinh trong cung vua cũng là một sự hiếm có, mà
bấy giờ bên Trung Quốc đời Đường Phật giáo đương hồi thạnh,
hẳn không thiếu gì Cao Tăng, mà Tăng-già ta dự
vào việc giảng kinh, kể cũng là một điều chứng nhận vẻ vang
cho lịch sử Phật giáo Việt Nam vậy.
Ấy là trong thời kỳ thuộc nhà Đường, nước ta bị
sống dưới cái chính thể cay nghiệt quá, nên trong
nước thường có những cuộc khởi nghĩa hoặc như nước ngoài quấy
nhiễu, như năm Khai Nguyên thứ 10 (722) có Mai Hắc Đế khởi nghĩa
ở Hoan Châu (Nghệ An), năm Đinh Vị niên hiệu Đại lịch thứ 2 đời
Đường Đại Tôn (767), quân Côn Lôn và quân
Đồ Bà ngoài đảo vào cướp phá; năm Tân Vị
(791) có Bố Cái Đại vương khởi nghĩa ở quận Đường Lâm
(Sơn Tây) rồi lại giặc Nam Chiếu quấy nhiễu hàng mười năm trời,
dân tình rất là rối loạn khổ sở.
Trong khoảng mấy trăm năm trời, dân ta sống điêu đứng
dưới chánh phủ đô hộ, chế độ hà khắc mà Phật giáo
sử có những giai đoạn ấy, thật cũng vẻ vang! Vả đồng thời Nho giáo
và Lão giáo cũng được mở mang nhiều.
Lại trong đời thuộc Đường ấy, ngài Vô Ngôn
Thông đã qua truyền đạo ở ta mà lập thành phái
Thiền tôn thứ hai.
2.- PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Đời vua Đức Tôn nhà Đường (780 - 836) quan Tể tướng
là Quyền Đức Dư có để bài tựa trong cuốn Truyền pháp
lục, có viết một đoạn: "Sau khi tổ Tào Khê tịch rồi,
Thiền tôn thạnh hành, ở đâu cũng có tôn phái
truyền thống. ở Giao Châu thì có Vô Ngôn
Thông đạo sĩ đem tôn chỉ của Bách Trượng Thiền sư mà
khai ngộ cho dân chúng.
Nói đến Vô Ngôn Thông tức là nói
đến Sơ tổ của phái Thiền tôn thứ hai ở ta. Ngài họ Trịnh,
quê ở Quảng Châu, lúc nhỏ đã mộ đạo không
thiết gì đến gia sản, rồi xuất gia tu học ở chùa Song Lâm
đất Vũ Châu (Chiết Giang bây giờ). Tính ngài điềm
đạm ít nói, nhưng sự lý gì cũng thông hiểu,
nên người ta mới đặt danh hiệu cho ngài là Vô Ngôn
Thông.
Một hôm ngài đang lễ Phật thì gặp một vị Thiền
sư đến điểm hóa cho ngài, rồi đưa ngài đi tìm
Mã Tổ mà tham học. Nhưng mới tới Giang Tây đã
nghe tin Mã Tổ tịch rồi, hai ngài liền đưa nhau đến bái
yết Bách Trượng Thiền sư (đệ tử của Mã Tổ) xin học.
Bấy giờ có một vị Tăng trong lớp học, hỏi Bách Trượng
Thiền sư rằng:
- Thế nào là pháp môn đốn ngộ của phái
Đại thừa?
Bách Trượng Thiền sư dạy rằng :
- Tâm địa nhược thông, huệ nhật tự chiếu.
(Nếu tâm địa được thông thì mặt trời trí
huệ tự nhiên chiếu sáng).
Nghe được câu ấy, ngài Vô Ngôn Thông
tự nhiên ngộ đạo. Rồi ngài về Quảng Châu Trú trì
ở chùa An Hòa. Năm Canh Tý niên hiệu Nguyên
Hòa thứ 15 đời nhà Đường (829), ngài qua An-nam trú
ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng (Bắc Ninh), trọn ngày
ngồi xây mặt vào vách mà thiền định. Như thế đã
mấy năm mà không ai biết; duy có một vị sư ở chùa
đó là Cảm Thành Thiền sư, biết ngài là
bậc Cao Tăng đắc đạo trong phái Thiền tôn thì đem lòng
kính trọng và thờ làm thầy.
Một hôm không bệnh tật gì, ngài đòi
tắm rửa rồi tịch. Bấy giờ là niên hiệu Bảo Lịch đời nhà
Đường.
Truớc khi tịch ngài gọi Cảm Thành Thiền sư đến bảo
rằng: "Ngày xưa Tổ sư là ngài Nam Nhạc, khi sắp tịch
có dặn lại mấy lời rằng:
"Nhất thiết chư pháp, giai tùng tâm sanh.
Tâm vô sở sanh, pháp vô sở trú.
Nhược đạt tâm địa, sở trú vô ngại.
Phi ngộ thượng căn, thận vật khinh hứa".
(Nghĩa là: Hết thảy các pháp, đều tự tâm
sanh; tâm nếu không sanh pháp không chỗ trú;
nếu hiểu được tâm địa ấy, thì làm việc gì cũng
không trở ngại. Cái tâm pháp ấy, nếu không
gặp được bậc thượng căn, thì chớ nên truyền bậy). Nay ta cũng
dặn lại người câu ấy.
Nói xong, ngài chấp tay lại mà tịch. Cảm
Thành Thiền sư rước ngài lên hỏa đàn, rồi thâu
hài cốt ngài mà xây Tháp thờ ở núi
Tiên Du.
Thế là từ đời Sơ Tổ Tì Ni Đa Lưu Chi sang truyền
thống Thiền Tôn ở Giao Châu (580) đến thời này (820) cách
hơn 200 năm, ta lại có một Sơ Tổ truyền phái Thiền Tôn
thứ hai nữa.
Dòng Vô Ngôn Thông xuống được 15 đời,
biết được danh hiệu và sự tích cọng là 40 người. Đến
đời cư sĩ Ứng Thuận là cuối cùng (1221).
- Cảm Thành Thiền sư: Đệ tử của ngài Vô Ngôn
Thông; được ngài truyền tâm ấn và cho pháp
hiệu là Cảm Thành. Thiền sư quê ở huyện Tiên Du
(Bắc Ninh), không rõ họ là gì, chỉ biết lúc
xuất gia lấy đạo hiệu là Lập Đức. Nguyên trước ngài có
Trú trì ở một ngôi chùa trên núi
Tiên Du, sau có người hào phú họ Nguyễn ở làng
Phù Đổng mến phục đạo đức ngài, tình nguyện đem gia
trạch cúng làm ngôi chùa, rước ngài về
ở, tức là chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng bây
giờ.
Ngài ở đó chưa được bao lâu thì Vô
Ngôn Thông Thiền sư vân du qua đó, thấy ngài
có tư cách đủ truyền đạo thống thì ở lại. Ngài
biết Thiền sư là bậc đắc đạo, nên rất thành kính
thờ làm thầy, mai hầu tối chực, không hề biếng trễ, nên
Thiền sư Vô Ngôn Thông đặt đạo hiệu lại cho ngài
là Cảm Thành. Một hôm Thiền sư gọi ngài đến bảo
rằng:
"Xưa đức Thế Tôn vì một nhơn duyên lớn mà
xuất hiện ở đời, khi pháp duyên đã viên mãn,
sắp vào cõi Niết-bàn, ngài đem chính pháp
nhãn tạng và y bát truyền lại cho đức Ma-ha Ca-diếp
là đệ tử của ngài, thành ra đức Ca-diếp là Tổ
thứ nhất của chánh thống Thiền Tôn. Từ Tổ Ca-diếp truyền đến
ngài Đạt-ma là đời thứ 28 ở Tây Thiên; ngài
Đạt-ma vượt bỏ qua Đông độ, trải qua nguy hiểm mới truyền tâm
pháp cho ngài Tăng Xáng lần lần truyền xuống đến Lục
tổ Huệ Năng. Từ Sơ tổ Đạt-ma đến Lục tổ Huệ Năng, trao truyền chánh
pháp đều lấy y bát làm minh chứng. Vì lúc
đầu phải có thế người ta mới biết mà tin. Về sau Phật pháp
truyền bá đã rộng, mà y bát là một hiện
tượng dễ sanh ra tranh đoan, nên ngài Lục Tổ không truyền
y bát nữa mà chỉ truyền tâm pháp mà thôi.
Lãnh được tâm truyền của Lục Tổ là Nam Nhạc
Thiền sư; Nam Nhạc Thiền sư truyền cho Mã Tổ Thiền sư; Mã Tổ
Thiền sư truyền cho Bách Trượng Thiền sư. Bấy giờ ở Bắc phương Phật
pháp thạnh hành đã lâu, nhiều người đã
hiểu giáo pháp Đại thừa, nên ta mới qua Nam phương để
tìm người mà truyền chánh pháp. May gặp ngươi
ở đây cũng là bởi nhơn duyên định sẵn".
Vậy ngươi hãy nghe lấy bài kệ này:
Chư phương hao hao,
Vọng tự huyên truyền;
Vị ngô thủy tổ,
Thân tự Tây Thiên.
Truyền Pháp Nhãn tạng,
Mục vị chi thuyền.
Nhất hoa Ngũ diệp,
Chủng tử miên miên.
Tiềm phù mật ngữ,
Thiên vạn hữu duyên.
Hàm vị tâm tôn,
Thanh tịnh bản nhiên.
Tây Thiên thử độ,
Thử độ Tây Thiên.
Cổ kim nhật nguyệt,
Cổ kim sơn xuyên.
Xúc đồ thành trệ,
Phật tổ thành oan.
Sái chi hào ly,
Thất chí bách thiên.
Nhừ thiện quan sát,
Mạc khiêm nhi tôn.
Trục nhiêu vấn ngã,
Ngã bổn vô ngôn.
Dịch:
Các nơi đồn thổi,
Quấy phá huyên truyền;
Rằng Phật Tổ ta,
Gốc ở Tây Thiên.
Truyền Pháp Nhãn tạng,
Gọi là đạo Thiền.
Một hoa Năm lá;
Hạt giống liên miên.
Một lời mầu nhiệm,
Duyên phước muôn nghìn,
Ấy là lâm tôn,
Yên lặng thản nhiên.
Tây Phương là đây,
Đây là Tây Phương.
Mặt trời mặt trăng,
Núi sông xưa nay,
Chậm đường là trệ,
Gặp Tổ thành oan.
Sai đi một mảy,
Lỗi đến trăm ngàn.
Người khéo xem xét,
Chớ để phàn nàn.
Ta không nói nữa,
Đừng còn hỏi han.
Cảm Thành Thiền sư nghe lời thầy dạy trong bài kệ
thì hiểu thấu, cho là mầu nhiệm mà ngộ đạo ngay.
Sau có một vị Tăng hỏi ngài rằng:
- Thế nào là Phật?
- Chỗ nào cũng là Phật cả.
- Thế nào là tâm của Phật?
- Không hề che đậy chỗ nào.
Ấy - cái lối truyền thọ tâm pháp của phái
Thiền tôn chỉ giản ước có thế mà bao hàm ý
nghĩa vô cùng.
Đến năm Canh Thìn, niên hiệu Hàm Thông
nguyên niên (860), Cảm Thành Thiền sư không bệnh
mà tịch, truyền tâm pháp cho Thiện Hội Thiền sư.
Trong thời kỳ Cảm Thành Thiền sư truyền giáo, thì
Phật giáo bên Trung Hoa bị "đệ tam võ ách".
Ta ở xa tuy không bị ách vận ấy nhưng nước ta vốn
thuộc nước Trung Hoa, nên Phật giáo thời ấy cũng bị ảnh hưởng
mà đình trệ lại, không dám truyền bá mạnh.
Tuy nhiên, bề trong sự truyền bá vẫn ngấm ngầm. Vả
trong thời ấy hẳn phải có nhiều Cao Tăng Ấn Độ hoặc Trung Hoa trốn
sang cõi đất tuy nhỏ mà thái bình này
để nối tiếp việc truyền đạo.
- Thiện Hội Thiền sư: Ngài quê ở huyện Siêu
Loại (Bắc Ninh bây giờ). Lúc nhỏ ngài học ở chùa
Định Thiền trong làng, lớn lên mới xuất gia, thọ giới, tự hiệu
là Tổ Phong, rồi đi vân du khắp mọi nơi để tìm thầy tham
học. Khi đến chùa Kiến sơ được gặp Cảm Thành Thiền sư bèn
xin ở lại học.
Ngài thờ Thiền sư hơn 10 năm mà không chán.
Một hôm vào phòng hỏi thầy rằng:
- Trong kinh Phật có nói: Đức Thích-ca Như
Lai từng tu hành trải vô số kiếp mới thành Phật, thế
mà nay thầy dạy rằng: "Tâm tức là Phật, Phật tức là
tâm" là nghĩa làm sao? Thật đệ tử không hiểu, xin
thầy dạy rõ cho.
Cảm Thành Thiền sư nói:
- Người bảo trong kinh Phật nói thế là ai nói
đó?
- Vậy lời ấy không phải là Phật thuyết ư?
- Lời ấy đâu phải là Phật thuyết. Kinh Văn Thù
Phật có dạy: "Ta trú ở thế gian dạy chúng sinh 49 năm,
chưa từng đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ".
Vì theo chánh đạo, nếu lấy văn tự làm bằng chứng để
cầu đạo, ấy là mê; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là
mê; lìa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại
đạo, mà cố chấp cái tâm ấy là Phật cũng lại là
ma vậy.
- Nếu bảo tâm ấy tức là Phật, thì trong tâm
ấy cái gì là Phật, cái gì là không
phải Phật?
- Ngày xưa có người hỏi Mã Tổ rằng: "Nếu
bảo tâm ấy là Phật, thì trong tâm ấy cái
gì là Phật?” Mã Tổ trả lời rằng: "Thế ông ngờ
tâm ấy cái gì không phải là Phật, ông
chỉ vào đấy cho tôi xem. Người ấy không nói gì.
Mã Tổ lại tiếp: "Đạt được thì khắp mọi nơi chỗ nào cũng
là Phật, mà không đạt được thì cứ sai lầm đi mãi
mãi". Thế là chỉ vì một lời nói nó che
đi mà thành ra sai lầm đó thôi. Người đã
hiểu chưa?
- Nếu vậy, đệ tử hiểu rồi.
- Người hiểu thế nào?
- Đệ tử hiểu rằng khắp hết mọi nơi chỗ nào cũng là
tâm Phật cả.
Nói thế rồi ngài sụp xuống lạy. Cảm Thành
Thiền sư nói:
- Thế là người hiểu tới nơi rồi đó.
Cảm Thành Thiền sư mới đặt tên cho ngài là
Thiện Hội, nghĩa là khéo hiểu. Ngài ngộ đạo rồi lại
về Trú trì ở chùa Định Thuyền. Sau ngài tịch
ở chùa ấy vào năm Canh Thân, niên hiệu Quang Hóa
nhà Đường (900), và truyền tâm pháp cho đệ tử
là Vân Phong người huyện Từ Liêm, tức là đời thứ
ba giòng Vô Ngôn Thông vậy.
Lúc này nội tình nước Trung Hoa thật là
rối loạn. Nhà Đường từ vua Ý Tôn, Hy Tôn đến Chiêu
Tôn, chính trị suy đồi, nên các triều quan hoành
hành quá đỗi. Rồi Chu Toàn Trung giết vua mà
tự lập. Trong khoảng hơn 50 năm triều đại thay đổi luôn luôn.
Các thà nổi lên thay nhau làm vua là Hậu
Lương, Hậu Đường, Hậu Tần, Hậu Hán, Hậu Chu gọi là đời Ngũ
Đại hay Ngũ Quý.
Nước ta vì vậy chính trị cũng có chiều thay
đổi. Năm 906 có Khúc Thừa Dụ sang làm Tiết Độ sứ ở Giao
Châu mà ở Quảng Châu (Quảng Đông, Quảng Tây
bây giờ) thì Lưu Ẩn được nhà Hậu Lương phong cử cho làm
Nam Bình Vương ra trấn ở đó kiêm chức Tiết Độ sứ, có
ý để lấy lại Giao Châu cho nhà Lương. Năm sau Thừa Dụ
chết, giao quyền cho con là Khúc Hạo. Khúc Hạo lên
làm Tiết Độ sứ Giao Châu, có con là Khúc
Thừa Mỹ sang sứ Quảng Châu, tiếng là kết hiếu, nhưng cốt để
do thám.
Lưu Ấn ở Quảng Châu, đóng phủ trị ở Phiên Nhung,
được bốn năm thì mất, em là Lưu Cung lên thay. Nhân
có việc bất bình với Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế lấy Quốc
hiệu Đại Việt, sau đổi là Nam Hán.
Năm 917 Khúc Thừa Mỹ lên thay cha, không chịu
thần phục nhà Nam Hán. Lưu Ấn liền sai tướng sang đánh,
bắt được Thừa Mỹ, rồi sai Lý Tiến sang làm Thứ Sử cùng
Lý Khắc Chính cùng giữ Giao Châu. Năm Tân
Mão (931) tướng cũ của Khúc Hạo là Dương Diên
Nghệ nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Tiến, rồi
tự xưng làm Tiết Độ sứ. Được sáu năm, Dương Diên Nghệ
lại bị gia tướng là Kiều Công Tiễn giết đi mà cướp quyền.
Khi ấy có tướng của Dương Diên Nghệ là Ngô
Quyền, người Phong Châu (Sơn Tây), nổi lên đánh
Kiều Công Tiễn. Kiều thua về cầu cứu quân Nam Hán. Quân
Nam Hán sang cũng bị thua và từ đó, quân Trung
Hoa không dám sang Giao Châu quấy nhiễu nữa.
Ngô Quyền xưng vương, giải được cái ách vận
hơn nghìn năm nước ta bị nô lệ và mở đường tự lập cho
những nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê về sau này.
Về Phật giáo ở nước ta lúc ấy cố nhiên là
phải đình trệ, tuy sự truyền thống của hai dòng Tỳ Ni Đa Lưu
Chi và Vô Ngôn Thông vẫn lưu hành.
Trong thời Tiền Ngô Vương (939 - 944) ở ta, bên Trung
Hoa vào niên hiệu Hiển Đức nhà Hậu Chu (955), Phật giáo
lại bị đại ách, đó là "Nhất tôn chi ách"(9)
vậy.
Phật giáo ở Trung Hoa tưởng đến tuyệt đích, nhưng
không có ảnh hưởng gì đến Phật giáo ở nước ta.
Khi Trung Hoa bước sang nhà Tống thì nước ta cũng
dần dần bước sang nhà Đinh.
PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ
ĐINH (968 - 980)
VÀ ĐỜI TIỀN LÊ (980 - l09)
Ngô Vương làm vua được 6 năm thì mất vào
năm Giáp Thìn (944), có ủy thác con là
Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha, em của Dương Hậu, Tam Kha cướp quyền
cháu, tự xưng làm Bình Vương. Sau em Xương Ngập là
Xương Văn cướp ngôi lại và cùng làm vua, tức Hậu
Ngô Vương. Được 4 năm Xương Ngập mất, Xương Văn làm vua được
15 năm cũng bị chết trận vì vua thường phải thân chinh đi dẹp
loạn. Bấy giờ là năm Ất Sửu (965). Trong thời Hậu Ngô Vương,
nước ta có cái loạn Thập nhị xứ quân, dân tình
rất là khổ sở.
Sau có Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh nổi lên phục
được tất cả các sứ quân và lên ngôi Hoàng
Đế, tức là Tiên Hoàng Đế nhà Đinh, lấy niên
hiệu là Thái Bình nguyên niên (970).
Vua sai sứ sang thông hiếu với Tống triều bên Trung
Hoa và sửa sang việc nước, trừ diệt hết những sự tham nhũng, định
lại việc triều chính.
Nước ta từ lâu đã có Nho giáo, Lão
giáo ở Trung Hoa truyền sang, nhưng thật ra hai giáo ấy chưa
được phổ cập hết dân chúng bằng Phật giáo, nên
thời ấy có thể gọi là thời đại Phật giáo độc tôn.
Văn hóa trong lược hình như hầu hết ở trong các Tăng
sĩ cả. Nên khi Tiên Hoàng Đế định giai cấp văn võ,
thì ngài triệu tất cả Tăng sĩ lỗi lạc vào hàng
Thái miếu và dính phẩm trật cho các Tăng-già.
Ngài tặng chức Khuông Việt Thái sư cho Pháp sư
Ngô Chân Lưu, Pháp sư Trương Ma Ni làm Tăng lục
đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân
uy nghi.
Phật giáo ở nước ta được triều đình công nhận
từ đó và Tăng sĩ có định giai phẩm khi ấy cũng là
lần đầu tiên. Phật giáo sử lại thêm được giai đoạn vẽ
vang. Và cứ xem một vị Tăng Thống được phong đến chức Thái
sư thì đủ đoán được tình hình Phật giáo
về đời nhà Đinh lại bắt đầu thạnh hơn trước vậy.
Nhà Đinh mất, nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành)
lên thay để chống với quân nhà Tống (980). Triều này
các Tăng sĩ cũng được biệt đãi. Đại Hành thường triệu
các vị Tăng Thống vào triều để hỏi việc nước và Phật
giáo.
Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (l008), sau khi nước ta
đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh
Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước
Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu
kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và
cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người
sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy.
- Khuông Việt Thái Sư: Ngài họ Ngô,
pháp hiệu là Chân Lưu, quê ở làng Cát
Lỵ (?), Trú trì ở chùa Phật Đà. Thuở nhỏ ngài
theo Nho học; lớn lên thọ giới với Vân Phong Thiền sư ở chùa
Khai Quốc. Từ đó ngài đọc khắp kinh điển nhà Phật, hiểu
được mọi lẽ cốt yếu của Thiền Tôn, tiếng tăm lừng lẫy trong nước. Năm
ngài 40 tuổi, vua Đinh Tiên Hoàng mời vào hỏi
đạo, ngài ứng đối tinh tường. Vua rất lấy làm mến phục, bèn
phong làm chức Tăng Thống. Năm sau, niên hiệu Thái Bình
thứ 2 (971), vua lại phong là Khuông Việt Thái sư (Khuông
Việt nghĩa là giúp đỡ sửa sang nước Việt).
Đến đời vua Lê Đại Hành, ngài lại càng
được kính trọng lắm. Bao nhiêu việc quân việc nước vua
thường triệu ngài đến hỏi.
Năm Thiên Phúc thứ 7 nhà Tiền Lê (986),
nhà Tống sai sứ Trung Hoa là Lý Giác sang nước
ta, vua Đại Hành liền sắc Khuông Việt Thái sư ra đón
tiếp và ứng đối. Khi Lý Giác về Trung Hoa có
để lại một bài thơ rằng:
Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du,
Nhất thâu lưỡng độ sứ Giao Châu.
Đông đô tái biệt tâm vưu luyến,
Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu,
Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch,
Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu.
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,
Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.
Dịch:
May gặp minh quân giúp việc làm,
Một mình hai lượt sứ miền Nam.
Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ,
Muôn dặm non sông mắt chữa nhàm.
Ngựa đạp mây bay qua suối đá,
xe vòng núi chạy tới giòng lam,
Ngoài trời lại có trời soi rạng,
Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.
Vua Đại Hành đưa bài thơ ấy cho ngài, hỏi
xem có ý gì không Ngài tâu:
- Câu thứ bảy sứ Trung Hoa có ý tôn
Bệ hạ cũng như Vua của họ vậy.
Vua Đại Hành bèn nhờ ngài làm một
bài tiễn Lý Giác. Ngài vâng mệnh làm
một bài từ theo điệu "Tống vương lang qui":
Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,
Thần tiên phục đế hương.
Thiên lý vạn lý thiệp thương lảng, (đọc: lương)
Cửu thiên qui lộ trường.
Nhân tình thảm thiết đối ly trường,
Phan luyến sứ tinh lang.
Nguyện tương thâm ý vị nam cương,
Phân minh tấu ngã hoàng.
Dịch:
Gió hòa phấp phới chiếc buồm hoa,
Thần tiên trở lại nhà.
Đường muôn nghìn dặm trải phong ba,
Cửa trời nhắm đường xa.
Một chén quan hà dạ thiết tha,
Thương nhớ biệt bao là.
Nỗi niềm xin nhớ cõi Nam Hà,
Bày tỏ với vua ta.
Ngài ở triều được ít lâu thì lấy cớ
già yếu xin cáo về, dựng một ngôi chùa ở núi
Du hý. Ở đó ngài mở trường giảng học, học trò
đến học rất đông; có Đa Bảo Thiền sư là đệ tử thân
tín của ngài, sau được truyền tâm pháp.
Ngày 15 tháng 2, niên hiệu Thuận Thiên
thứ hai đời nhà Lý, ngài gọi Đa Bảo Thiền sư đến đọc
bài kệ rằng:
Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Nguyên hỏa phục hoàn sanh.
Nhược vị mộc vô hỏa,
Toàn toại hà do manh?
Dịch:
Trong cây vốn có lửa,
Tia lửa mới sáng lòa,
Nếu bảo cây không lửa,
Cọ xát sao lại ra?
Đa Bảo Thiền sư hiểu thâm ý của Sư phụ, liền sụp
xuống lạy. Khuông Việt Thái sư chấp tay lại mà tịch.
Ngài thọ 81 tuổi(1) Ngài tức là đời pháp truyền
thống thứ tư của phái Vô Ngôn Thông Thiền sư vậy:
- Pháp Thuận Thiền sư: Ngài dòng họ Đỗ, không
rõ quê quán ở đâu, ngài xuất gia thuở nhỏ,
thọ giáo với Long Thọ Phù Trì Thiền sư. Khi nhà
Tiền Lê mới thành nghiệp, ngài thường được mời vào
triều để luận bàn việc chính trị và ngoại giao. Vua
Đại Hành thường gọi là Đỗ Pháp Sư chứ không dám
gọi chính tên. Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), nhà
Tống sai sứ là Lý Giác sang nước ta, vua sắc ngài
cải trang làm phu chèo đò cho sứ giả. Tình cờ
lúc ấy có hai con ngỗng đi ở mặt nước, Lý Giác
liền ngâm rằng:
Nga nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
Dịch :
Song song ngỗng một đôi,
Ngửa mặt ngó ven trời.
Pháp sư đang cầm chèo liền đọc tiếp:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bải thanh ba.
Dịch:
Lông trắng phơi dóng biếc,
Sóng xanh chân hồng bơi.
Lý Giác thán phục lắm.
Vua Đại Hành thường hỏi ngài về ngôi nước
dài ngắn thế nào? Ngài liền đọc bài kệ rằng:
Quốc tộ như đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình,
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.
Dịch:
Ngôi nước như dây quấn,
Trời Nam mở thái bình,
Trên điện không sanh sự,
Đâu đó dứt đao binh.
Niên hiệu Hưng Thống nhà Tiền Lê năm thứ hai
(990), ngài không bịnh mà tịch, thọ 76 tuổi. Ngài
có làm quyển "Bồ-tát hiệu sám hối văn", còn
truyền lại.
Ngài là đời pháp truyền thống thứ mười của
phái Tì Ni Đa Lưu Chi vậy.
Đọc hai ngài trên đây, ta đủ rõ về thời
ấy, trong nước chỉ có những vị Tăng Thống mới là bậc bác
học.
Ngày xưa mỗi khi tiếp sứ Trung Hoa, vua ta thường phải
chọn những người lỗi lạc uyên bác ra tiếp, mà khi vị
Thiền sư cũng được cử vào việc ấy, đủ biết văn hóa trong nước
hầu hết do ở các Tăng sĩ cả. Những Pháp sư ấy lại mở trường
giáo hóa Tăng chúng, nên ta có thể đoán
thời ấy Phật giáo ở ta dân chúng hiểu biết lắm vậy. Vả
thời ấy có thể gọi là thời đại luật giáo thịnh nhất.
Vua tin theo, triều đình ủng hộ, lại có sứ đi cầu kinh, tất
nhân dân ai ai cũng phải biết.
Nhưng đến cuối đời Tiền Lê, Phật giáo có lẽ
mất thế lực vì ông vua bạc nhược và khôi hài:
Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều: 1005 – l009).
"Long Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém
giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh (Lê
Trung Tôn con Lê Đại Hành) rồi lên làm vua
và thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: Có
khi những tù phạm phải tội hình thì bắt lấy rơm tẩm
dầu quấn vào người rồi đưa đốt sống; có khi bắt tù trèo
lên cây rồi sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi
bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông; hoặc bắt các
nhà sư rồi lấy mía để lên đầu mà róc vỏ,
thỉnh thoảng giả vờ lấy tay bổ dao xuống đầu, trông thấy máu
chảy ra thì lấy làm vui cười.
Còn khi ra buổi chầu, có ai tâu sớ điều gì
thì cho những người hề nói khôi hài hay là
nhái tiếng làm trò".
Với một ông vua đồi bại như thế, dù có những
ngài Tăng Thống dự vào triều chính cũng vị tất đã
dám đem những chuyện Phật giáo để cho vua được dịp làm
trò.
Cũng may, Ngọa Triều làm vua được có 4 năm thì
mất, để Lý Công Uẩn là người của Phật giáo lên
làm vua, gây nghiệp nhà Lý và gây
cho Phật giáo một thời đại cực thạnh.
PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ
LÝ (l010 - 1225)
1.- Lý Thái Tổ (l010
- l088).
Ngài tên húy là Công Uẩn, con
nuôi một vị sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh
Văn, sau thọ giáo với ngài Vạn Hạnh. Lớn lên ngài
theo ngài Vạn Hạnh vào Hoa Lư làm quan với nhà
Lê đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền chỉ huy sứ. Khi Lê Ngọa
Triều mất thì ngài đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người
đã oán giận nhà Tiền - Lê lắm, nên ở trong
triều có bọn ông Đào Cam Nuộc, cùng với Tăng Thống
Vạn Hạnh mưu tôn ngài lên làm vua. Ngài
lên ngôi Hoàng Đế tức là vua Thái Tổ, nhà
Lý, đóng đô ở thành Thăng Long (Hà Nội),
lấy niên hiệu Thuận Thiên.
Thái Tổ vốn ở trong phái Phật học mà ra nên
khi ở ngôi vua, ngài hết sức sùng trọng Phật giáo.
Ngay khi mới lên ngôi đã sắc ban phẩm phục cho các
hàng Tăng sĩ.
Năm Thuận Thiên nguyên niên (l010), Thái
Tổ sắc làm nhiều chùa ở phủ Thiên Đức, lấy tiền kho hai
vạn quan để dựng 8 ngôi: trong thành Thăng Long dựng chùa
Hưng Thiên Ngự, gần điện Thái Thanh dựng chùa Vạn Tuế,
ngoài thành lại dựng những chùa Thắng Nghiêm,
Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ, Thiên Quang
và Thiên Đức. Triều đình lại sắc đi khắp các làng
hễ chùa nào đổ nát thì phải tu bổ lại.
Sang năm thứ 9 (l019) Thái Tổ sai sứ là Phạm Hạo
và Nguyễn Đạo Thanh sang Trung Hoa thỉnh kinh. Khi được vua Tống ban
cho, ngài lại sắc một vị Thiền sư là Phi Trí đi sang
tận Quảng Tây đón về và để vào kho sách
Đại Hưng. Đó là lần thứ hai nước ta có sứ đi cầu kinh.
Năm sau (l020), ngài sắc lập Đạo đường và phái
Tăng sĩ đi diễn giảng Phật đạo khắp trong nước. Lại sắc đúc mấy quả
chuông để treo ở các chùa Hưng Thiên, Đại Giáo,
Thắng Nghiêm.
Năm Thuận Thiên thứ 15 (l024) tháng chín,
ngài lập chùa Chân Giáo ở trong thành và
sắc các Tăng sĩ, Pháp sư đến đó tụng kinh và
giảng đạo để ngài thường đến nghe.
Về đời Lý Thái Tổ, trong nước đã cường thịnh,
các nước ngoài như Chiêm Thành, Chân Lạp
đều chịu triều cống, bên Trung Hoa nhà Tống cũng giao hiếu không
sanh sự, dân tình được an lạc, vua và triều đình
lại hết tâm ủng hộ, nên Phật giáo ở nước ta hồi ấy có
thể gọi là hồi thạnh nhất từ trước đến sau. Bấy giờ Hán học
tuy đã phổ thông khắp dân chúng, nhưng Nho giáo
hình như chỉ là phần phụ ít ai để ý đến, vì
chưa có khoa cử, nên Phật giáo vẫn đứng địa vị độc tôn.
Bởi thế, văn hóa và học thuật trong nước vẫn là ở trong
phái Phật học cả.
Những vị Thiền sư có danh tiếng thời bấy giờ như Vạn Hạnh
Thiền sư, Đa Bảo Thiền sư, Sùng Phạm Thiền sư đều ở hai phái
Tì Ni và Vô Ngôn mà ra cả.
Vạn Hạnh Thiền sư: Người làng Cổ Pháp (nay là
làng Đình Bản, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh) họ Nguyễn, không
rõ tên tục là gì. Nhà ngài đời đời
thờ Phật, từ thuở nhỏ ngài đã thông minh khác
chúng, học khắp tam giáo và khảo cứu nhiều kinh luận
nhà Phật. Năm 20 tuổi, ngài xuất gia cùng với Định Huệ
Thiền sư, theo học với ngài Thiền ông Đạo-gia, tức là
đời pháp thứ hai của phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Sau Thiền
ông tịch rồi, ngài chuyên tập pháp "Tổng trì
Tam-ma-địa", mỗi khi nói câu gì lạ thường, người đời
đều cho ông là câu sấm. Thời vua Lê Đại Hành
còn tại thế, thường mời ngài đến hỏi về việc quân.
Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980), nước
Trung Hoa sai Hậu Nhân Bửu đem quân qua đánh nước ta,
khi đã đóng núi Cương Giáp Lãng (?), vua
Đại Hành mời Thiền sư đến hỏi quân ta thắng bại thế nào?
Ngài tâu: Chỉ trong ba, bảy ngày thì giặc tất
lui. Sau quả nhiên như vậy. Ngài rất giỏi về sấm ngữ và
độn số, vua Đại Hành rất đem lòng tôn kính thán
phục.
Năm Thuận Thiên thứ 9 (l018), ngài không đau
ốm gì mà tịch. Vua Lý Thái Tổ và các
đệ tử rước ngài lên hỏa đàn rồi thâu hài
cốt xây tháp để thờ.
Ngài có bài kệ trước khi tịch rằng :
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,
Nhậm vận thạnh suy vô bố úy,
Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch :
Thân như bóng chớp chiều tà,
Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.
Sá chi suy thạnh việc đời,
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.
Sau vua Lý Nhân Tôn (l072 - 1 127) cũng có
bài truy tán ngài rằng:
Vạn Hạnh dung tam tế,
Nhơn phù cổ sấm cơ (ky).
Hương quan danh Cổ Pháp
Trụ tích trấn vương kỳ.
Dịch:
Thiền sư học rộng bao la,
Giữ mình hợp phép sấm ra ngoài lời.
Quê hương Cổ Pháp danh ngời,
Tháp bia đứng vững muôn đời Đế Đô.
- Đa Bảo Thiền sư: Không rõ ngài quê
quán ở đâu, Trú trì chùa Kiến Sơ ở làng
Phù Đổng. Ngài là đệ tử của Khuông Việt Thái
sư (phái Vô Ngôn Thông). Lý Thái Tổ
nghe danh thường mời ngài vào triều hỏi đạo và bàn
luận việc nước và việc ngoại giao Thái Tổ có sắc trùng
tu chùa Kiến Sơ cho ngài ở sau không rõ ngài
tịch ở đâu và bao giờ, vì ngài thường thường vân
du đi khắp xứ để thuyết pháp truyền đạo.
Đệ tử được truyền tâm pháp của ngài là
Định Hương Trưởng lão.
2.- Lý Thái Tôn
(l028 - l054).
Thái tử Phật Mã nối ngôi Thái Tổ, tức
là Lý Thái Tôn, lấy niên hiệu Thiên
Thành. Ngài cũng là người sùng đạo Phật, thường
thường họp các bô lão, Tăng sĩ ở các chùa
để bàn luận về đạo Phật.
Năm Thiên Thành thứ tư (l031) tháng tám,
sau khi dẹp giặc Chiêm ở Hoan Châu (Nghệ An bây giờ) về,
Thái Tôn sắc lập 95 ngôi chùa. Khi chùa
làm xong, triều đình mở quốc hội để khánh thành
và miễn thuế cho nhân dân một năm.
Năm 1034, Thái Tôn đổi niên hiệu là
Thông Thụy. Tháng 8 năm ấy nhà Tống ban Đại Tạng kinh
và sai sứ rước sang cho ta, Thái Tôn sai triều quan đi
đón rất long trọng.
Trong năm ấy có hai vị Thiền sư là Nghiêm
Bảo Tánh và Phạm Minh Tâm ngộ đạo tự thiêu mình,
Thái Tôn cho rước tro ấy vào thờ ở chùa Trường
Thánh.
Đến năm Thông Thụy thứ ba (l036), Thái Tôn
sắc sơn thếp lại các tượng Phật ở các chùa. Khi hoàn
thành triều đình mở quốc hội khánh thành và
miễn thuế cho dân một năm.
Lại vào khoảng niên hiệu Thông Thụy (l034-1038),
vua thường đến hỏi đạo nơi ngài Thuyền Lão Thiền sư và
xưng làm đệ tử. Sau vua được ngài truyền tâm pháp,
tức là người thứ bảy trong đời, truyền thống thứ bảy của phái
Vô Ngôn Thông vậy(1).
Triều đời Lý, ngài thật là một ông
vua sùng đạo bậc nhất. Ngoài những lúc lo việc chính
trị, ngài lại lo học pháp Thiền định của phái Thiền
Tôn. Ngài tu tại gia, thọ giáo với ngài Thuyền
Lão; ngài lại thường đàm đạo với các Thiền sư
nổi tiếng bấy giờ như Cứu Chỉ Thiền sư, Bảo Tánh Thiền sư, Minh Tâm
Thiền sư, v.v... Các Thiền sư này cũng là những bậc
Đại đức của phái Vô Ngôn, mỗi ngài đều có
đệ tử rất đông.
Qua niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo năm đầu (1049), Thái
Tôn sắc dựng chùa Diên Hựu. Nguyên năm trước ngài
nằm mơ thấy đức Phật Quan Âm dẫn ngài vào Liên
Hoa điện. Tỉnh dậy, ngài ban hỏi đình thần thì một vị
Tăng Thống xin lập chùa. Vua nghe lời, sắc dựng một cục đá,
ở trên xây điện Liên Hoa (hình hoa sen nổi trên
mặt nước) thờ Phật Quan Âm và hội các Tăng sĩ lại tụng
kinh cầu trường thọ (chùa ấy hiện còn ở gần Hà Nội,
người ta thường gọi là "Chùa Một Cột").
Những Thiền sư có danh hồi ấy như Huệ Sinh Thiền sư, Định
Hương Trưởng lão Thiền sư (phái Tì Ni), Cứu Chỉ Thiền
sư v.v...
- Huệ Sinh Thiền sư: Họ Lâm, tên tục là Khu,
quê ở Đông Phù Liệt nguyên là con cháu
Lâm Phú ở Trà Sơn (huyện Thanh Trì, Hà
Đông bây giờ). Thuở nhỏ tướng mạo khôi ngô, nói
năng rất lưu loát, nổi tiếng văn hay chữ tốt. Những khi học Nho còn
thừa thì giờ ngài lại nghiên cứu kinh Phật. Mỗi khi nói
đến chỗ cốt yếu của Phật pháp, ngài thường than thở và
rơi nước mắt. Gần 70 tuổi, ngài theo Định Huệ Thiền sư, từ đó
đạo học càng ngày càng tiến. Khi được sư phụ truyền
tâm pháp cho, ngài mới đi hành hóa khắp
chốn tòng lâm, rồi lên ở núi Bồ-đề. Mỗi lần ngài
ngồi nhập định tu pháp ít nhất cũng phải năm bảy ngày.
Người đời bây giờ thường gọi ngài là ông "Phật
xác thịt".
Vua Lý Thái Tôn nghe tiếng ngài có
sai sứ đến mời. Ngài bảo sứ giả rằng: ông không thấy con
sanh trong lễ tế ư? Khi chưa tế thì người ta cho nó ăn cỏ thơm,
mặc áo gấm, đến khi dắt vào Thái miếu thì nó
chỉ muốn cầu chút sống sót, còn nói đến việc
gì? Nói rồi ngài từ chối không chịu đi. Sau vì
nhà vua cố ép, bất đắc dĩ ngài phải tới cửa khuyết.
Sau khi đàm đạo về Phật pháp, vua rất lấy làm
kính phục, mới phong cho ngài làm chức Nội Cung Phụng
Tăng và sắc truyền ở chùa Vạn Tuế gần thành Thăng Long.
Một hôm trong Đại hội có thiết tiệc chay đãi các
Tăng sĩ, vua ban:
"Đối với tâm nguyện của Phật, các học giả thường
cãi lộn nhau, Trẫm muốn các bậc thượng đức ở đây, bày
tỏ chỗ sở đắc, để Trẫm xem học vấn của các ngài đến bậc nào".
Ngài liền ứng khẩu đọc bài kệ rằng:
Pháp bổn như vô pháp,
Phi hữu duyệt phi không.
Nhược nhân tri thử pháp,
Chúng sinh dự Phật đồng.
Tịch tịch Lăng già nguyệt,
Không không độ hải châu.
Tri không không giác hữu,
Tam-muội nhậm thông châu.
Dịch:
Pháp vốn như không pháp,
Chẳng có cũng chẳng không.
Nếu hiểu được pháp ấy,
Chúng sinh, Phật vẫn đồng.
Trăng Lăng-già phẳng lặng,
Thuyền Bát-nhã chơn không.
Biết không rồi biết có,
Tam-muội mặc dung thông.
Vua rất lấy làm mến phục.
Thời ấy các Vương công trong triều và các
sĩ thứ nhiều người đến hỏi đạo lý và đều kính ngài
là bậc thầy. Sang đời Thánh Tôn, ngài lại được
phong làm Tả Nhai Tăng Đô Thống. Đến năm Gia Khánh thứ
5 (l063) ngài mất. Ngài có soạn ra mấy cuốn Pháp
sư trai nghi, Đạo tràng khánh tản văn, nhưng đều thất truyền.
- Định Hương Trưởng Lão: Họ Lữ quê ở Chu Minh, đệ
tử của ngài Đa Bảo Thiền sư (phái Vô Ngôn), thọ
giới với sư phụ đã hơn 24 năm.
Môn đệ của Đa Bảo Thiền sư có hơn vài trăm
người, ngài cùng Bảo Hòa Thiền sư đứng vào bậc
nhất.
Một hôm ngài hỏi Đa Bảo Thiền sư rằng:
- Thế nào là tìm thấy chân tâm
của mình?
- Thì người cứ tìm đi.
Ngài nghe thầy nói thế, trong lòng bâng
khuâng, một hồi lâu nói:
- Hết thảy mọi người cũng đều thế cả, phải gì một đệ tử
này.
- Thế người đã hiểu chưa?
- Khi đệ tử hiểu rồi thì lại cũng như khi chưa hiểu.
- Ngươi nên giữ gìn lấy cái tâm ấy.
Nghe thầy dạy thế, ngài liền chấp tay và xây
mình lại Đa Bảo liền quát to lên rằng:
- Đi đi!
Ngài vội sụp xuống lạy. Đa Bảo Thiền sư dạy:
- Từ nay người tiếp người nên coi mình như người
mắt mờ tai điếc vậy.
Thời ấy ở Kinh đô có quan Thành Hoàng
sứ là Nguyễn Tuân, rất kính mến đạo đức của ngài
mời ngài về trú ở chùa Cảm ứng, học trò đến học
rất đông, ngài giáo hóa được nhiều người đắc đạo.
Niên hiệu Sùng Hưng Dại Bảo thứ ba (l051) ngài tịch.
- Thuyền Lão Thiền sư: Trú trì ở chùa
Trùng Minh huyện Tiên Du, đệ tử của Đa Bảo Thiền sư. Khi học
đã đắc đạo rồi mới về ở ngôi chùa vùng Từ Sơn,
danh tiếng lẫy lừng, học trò kể hơn nghìn người. Chỗ ở của
Thiền sư thành ra một nơi tùng lâm đô hội.
Trong khoảng niên hiệu Thông Thụy (l034 - l038), vua
Lý Thái Tôn nhơn một hôm đến thăm và hỏi
rằng:
- Hòa thượng trú ở chùa này bao lâu?
Thiền sư liền đọc hai câu thơ rằng:
Đản tri kim nhật nguyệt,
Thùy thức cựu xuân thu.
Dịch:
Sống ngày nay biết ngày nay,
Còn xuân thu trước ai hay làm gì.
- Ngày thường Hòa thượng làm việc gì?
Ngài lại đọc:
Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh,
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.
Dịch:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác,
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.
Sau khi về cung, vua định cho sứ đến rước ngài lo triều
để cố vấn. Đoạn sứ giả đến nơi thì ngài đã tịch rồi.
3.- Lý Thánh Tôn
(l054 - l072).
Thái tử Nhật Tôn nối ngôi Thái Tôn
hiệu là Thánh Tôn, đổi quốc hiệu là Đại Việt(2).
niên hiệu là Long Thụy Thái Bình (l054). Ngài
là một ông vua sùng đạo Phật và nhân từ
nhất. Những mùa lạnh ở trong cung, ngài thường nghĩ thương
đến tù phạm và những kẻ nghèo. Một năm, trời rét
lắm, Thánh Tôn bảo những quan hầu cận rằng:
"Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này mà còn
rét, nghĩ những tù phạm phải giam trong ngục, phải trói
buộc, cơm không có mà ăn, áo không có
mà mặc, vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay
chưa rõ, lỡ rét quá mà chết thì thật là
thương lắm".
Nói rồi ngài truyền lấy chăn chiếu cho tù
nằm và mỗi ngày cho ăn hai bữa đầy đủ. Lại một hôm, Thánh
Tôn ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có
Động Thiên Công chúa đứng hầu bên cạnh, ngài
chỉ Công chúa mà bảo các quan rằng:
"Lòng Trẫm yêu dân như yêu con Trẫm vậy;
Trẫm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, Trẫm lấy làm
thương lắm; vậy từ rày về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi"(3).
Ngài có lòng từ bi bác ái như
vậy; cũng là do ngài sùng mộ Phật giáo và
trong triều lại có nhiều vị Thiền sư hầu cận làm ngự sử cho
ngài.
Năm Long Thụy Thái Bình thứ 5 (l056), Thánh
Tôn sắc dựng Sùng Khánh ở phường Báo Thiên,
có xây một ngọn tháp 12 tầng, cao 20 thượng và
đúc một quả chuông hết 12 ngàn cân đồng (phường
ấy ở xã Tiên Thị, huyện Thọ Xương, tức Hà Nội bây
giờ hiện còn di tích).
PHÁI THẢO ĐƯỜNG
Năm Kỷ Dậu (l069), vua Lý Thánh Tôn đi đánh
Chiêm Thành về, có bắt được vua nước ấy là Chế
Cũ và nhiều dân lính làm tù binh. Các
tù binh ấy vua Thánh Tôn ban cho các quan triều
làm quân hầu Trong số các quan triều ấy có một
vị Tăng Lục.
Một hôm vị Tăng Lục ấy đi vắng về, bỗng thấy bản "Ngữ lục"
của mình bị một tù binh sửa chữa lại cả. Ngài thất kinh
đem việc ấy tâu vua, vua liền cho đòi tên tù binh
ấy hỏi, thì y ứng đối rất thông, luận về những kinh điển nhà
Phật rất là xác đáng. Hỏi ra thì đó một
vị Thiền sư người Trung Hoa theo thầy qua Chiêm Thành, chẳng
may bị bắt làm tù binh. Vị Thiền sư ấy chính tự hiệu
là Thảo Đường, đệ tử của ngài Tuyết Đậu Minh Giáo bên
Trung Hoa.
(Theo sách Tục Truyền Đăng Lục thì Tuyết Đậu là
đạo hiệu của một vị Thiền sư tu ở núi Tuyết Đậu thuộc hạt Minh Châu
nước Trung Hoa, chính hiệu là Trùng Hiển, tự là
Ẩn Chi; vì tu ở núi Tuyết Đậu nên người ta kêu
là Tuyết Đậu Thiền sư).
Khi biết rõ tung tích của Thảo Đường Thiền sư, vua
Thánh Tôn liền sắc phong ngài chức Quốc sư, cho khai
giảng ở chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long. Đệ tử đến theo
học rất đông. Ngài biệt lập ra một phái, sau người ta
gọi là phái Thảo Đường, tức là phái Thiền tôn
thứ 3 ở ta vậy.
Lý Thánh Tôn cũng thọ giáo với ngài.
Sau Thánh Tôn đắc đạo được ngài truyền tâm pháp
và là đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường. Sau
phái Thảo Đường truyền xuống được 5 đời, đắc đạo cộng được 19 người(4).
Thế là trong đời vua Lý Thánh Tôn,
Phật giáo ở nước ta lại thêm một phái.
Năm Thiên Huấn Bảo Tượng thứ 2 (l069), Thánh Tôn
có sắc dựng Văn miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử cùng
tượng Tứ Phối và Võ tượng 72 vị Tiền hiền để thờ, nhưng sự
chuộng Nho giáo ấy cũng không có ảnh hường gì
đến sự truyền bá và thế lực của Phật giáo. Sự thật là
tuy Thánh Tôn có bắt Hoàng tử Văn miếu mà
học và có ý khai hóa việc văn mà ngài
vẫn đắc đạo thành một đạo sĩ của phái Thiền tôn.
4.- Lý Nhân Tôn
(1072 - 1127).
Thái tử Càng Đức con bà Ỷ Lan Thái
Phi, nối ngôi Thánh Tôn lấy đế hiệu là Lý
Nhân Tôn. Nhân Tôn lên ngôi vua thì
hãy còn nhỏ tuổi, nhưng được Thái sư Lý Đạo Thành
và các quan triều hết lòng lo việc nước, nên sau
ngài cũng thành một vị vua thông minh và anh dũng.
Trong đời này vua Nhân Tôn có mở khoa thi tam trường,
lập trường Quốc tử giám và lập tòa Hàn Lâm,
khuyến khích việc Nho học, nhưng ngài vẫn không xao nhãng
về vấn đề Phật giáo.
Năm Quảng Hựu thứ ba (l087), Nhân Tôn ngự giá
đi lễ Phật nghe kinh ở chùa Lãm Sơn (ở huyện Quế Dương, Bắc
Ninh bây giờ) rồi thiết triều yến ở chùa, và ngài
có ngự bút bài thơ nhan đề là "Lâm sơn
dạ yến". Ngài có đặt một vị quan triều cao cấp trông
nom hết thảy các chùa trong nước.
Năm Quảng Hựu thứ tư (l088), Nhân Tôn phong Khê
Đầu Thiền sư là chức Đại sư để cố vấn việc quốc chính như Khuông
Việt Thái sư đời Đinh Tiên Hoàng đế và Lê
Đại Hành Hoàng đế vậy.
Năm Long Phù thứ năm (ll05), vua sắc sửa chùa Diên
Hựu, trước mặt chùa xây một ngọn tháp cao và đào
một cái hồ thả sen. Thường những ngày rằm, mồng một vua ngự
giá đến chùa, Hoàng hậu cũng xuất của riêng ra
lập hơn một trăm ngôi chùa.
Năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118), nước Chân Lạp
và nước Chiêm Thành sai sứ đến cống hiến phương vật.
Vua mở một kỳ hội lễ Phật rất lớn, gọi là "Thiên Phật hội" (Hội
nghìn đức Phật).
Đời Lý Nhân Tôn lại có nhiều bậc Thiền
sư lỗi lạc trước thuật những sách vở làm vẻ vang cho lịch sử
Phật giáo nước nhà; hiện nay vẫn còn mà hồi ấy
người Trung Hoa cũng phải bái phục, như:
- Viên Chiếu Thiền sư: Ngài họ Mai, húy là
Trực, quê ở huyện Long Đàm, con anh bà Linh Cảm Thái
Hậu (vợ vua Thái Tôn).
Ngài thông minh từ thuở nhỏ. Có vị Trưởng
lão ở chùa Mật Nghiêm có tài xem tướng,
đoán cho ngài: Nếu đi tu thì có thể trở nên
một vị "Thiện Bồ-tát".
Cảm lời nói ấy, ngài liền từ giã cha mẹ,
vào chùa Tiêu Sơn xin làm đệ tử ngài Định
Hương Thiền sư, để nghiên cứu Thiền học. Ngài rất am hiểu pháp
"Tam Quán" trong kinh Viên Giác, tu đến đắc đạo và
được sư phụ truyền tâm ấn.
Sau ngài về Thăng Long, dựng một ngôi chùa
ở mé tả kinh thành mà Trú trì ở đó.
Người bốn phương nghe tiếng tìm đến theo học rất đông.
Ngài có soạn quyển "Dược sư thập nhị nguyện văn",
trong ấy bàn giải về 12 điều đại nguyện trong kinh Dược Sư. Vua Lý
Nhân Tôn có đưa bản sách ấy cho, sứ thần sang Trung
Hoa dâng vua Triết Tôn nhà Tống. Vua Tống giao sách
ấy cho các vị sư Thượng tọa chùa Tướng Quốc xem và có
chỗ nào đáng sửa thì sửa lại. Các Đại sư Trung
Hoa xem rồi đều tâu vua Tống rằng: "Đây là đấng hóa
thân Đại sĩ ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi,
bọn phàm Tăng chúng tôi đâu dám thêm
bớt một chữ nào nữa".
Vua Tống liền sắc cho sao lại một bản, còn bản chính
thì trả lại cho vua ta và có lời khen tặng.
Ngoài ra ngài còn soạn những sách:
Tán Viên Giác kinh.
Thập Nhị Bồ-tát hạnh tu chứng đạo tràng.
Tham đồ biểu quyết.
Đó là những sách giá trị đầu tiên
trong những sách luận giải về kinh điển nhà Phật của nước ta.
Ngài tịch vào năm Quảng Hựu thứ 6 (l090), thọ 92
tuổi.
- Ngộ Ấn Thiền sư: Ngài họ Đàm, húy là
Khí Qui,ở làng Kim Bài (thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh
Hà Đông), Trú trì ở chùa Long Ân.
Lúc nhỏ ngài thọ giáo với một vị sư già
Chiêm Thành. Năm 19 tuổi thì ngài phát
chí xuất gia và thọ Cụ túc giới. Ngài thông
hiểu cả hai thứ chữ: Hán và Phạn; thường vân du khắp
mọi nơi để hành hóa, học trò theo rất đông.
Trong những khi giảng dạy, ngài thường chủ trương thuyết
"Tam ban". Tức là lấy thân làm Phật, lấy miệng làm
pháp, lấy tâm làm thuyền. Ngài lại giải rằng:
"Tuy chia làm ba mà kỳ thực chỉ có một. Ví dụ
như nước ở ba ngọn sông, mỗi xứ gọi mỗi tên, tên tuy khác
mà chất nước không khác".
Ngài tịch vào năm thứ tư niên hiệu Quảng Hựu
(l088), thọ 69 tuổi.
Xét ra thời này hình như Phật giáo
có pha lẫn Đạo giáo vào nên các Thiền sư
danh tiếng nào cũng giỏi về nghề phù chú độn số. Như
tiểu truyện của Vạn Hạnh Thiền sư nói trên, ngoài ra
sách lại còn chép mấy chuyện về độn số và lời
sấm của ngài.
Cũng trong thời này có một vị Thiền sư tên
là Đạo Hạnh, họ Từ, tên húy là Lộ. Cha là
Từ Vinh, làm đến chức Tăng quan đô án, mẹ là Đặng
thị. Ông Vinh có dùng tà thuật làm mích
lòng Duyên Thành Hầu. Hầu giận, liền nhờ Đại Điên
Pháp sư dùng phép thuật đánh chết ông Vinh
vất thây xuống sông Tô Lịch, trôi đến Quyết Kiều
bên nhà Duyên Thành Hầu. Đến đây thây
ông Vinh bỗng đứng dậy như người sống và chỉ tay vào
nhà Hầu suốt một ngày.
Hầu sợ hãi liền đi tìm Đại Điên Pháp
sư. Pháp sư liền đọc câu kệ rằng:
"Tăng hận bất cách túc" (Thầy tu có giận
gì cũng không để qua đêm khác), tự nhiên
cái thây ngã xuống mà trôi đi.
Ngài Từ Lộ giận lắm, muốn báo thù cho cha
mà không biết làm thế nào, vì pháp
thuật của ngài còn kém; ngài liền vào
ẩn trong Từ Sơn, lấy Đạo hiệu là Đạo Hạnh; ngày thường chuyên
trì thần chú Đại bi và các pháp thuật
khác. Một ngày kia thấy pháp thuật mình đã
tinh thông, ngài liền trở về báo thù cho cha;
ngài ném cái gậy xuống sông Tô Lịch, gậy
bơi ngược giòng sông lên qua nhà Duyên Thành
Hầu thì đứng lại chỉ vào nhà. Hầu lại báo tin
cho Đại Điên Pháp sư ra xem thì bị gậy ấy đánh
chết ngay. Duyên Thành Hầu sợ hãi liền mời Tổ Giác
Hoàng Đại Pháp sư, hai bên thường đấu phép nhiều
lần. Sau Đạo Hạnh Thiền sư phải thua về ẩn ở Sài Sơn (Sơn Tây).
Nhân khi đánh nhau với tổ Giác Hoàng, ngài
Đạo Hạnh suýt bị chết, may có Sùng Hiền Hầu xin cứu
cho. Về sau nhớ ơn ấy, ngài Đạo Hạnh nguyện sẽ vào đầu thai
làm con của Hầu. Nhân bây giờ Sùng Hiền Hầu phu
nhân có thai, ngài liền hẹn bao giờ phu nhân trở
dạ thì phải báo cho ngài biết. Khi được tin ấy, ngài
liền đập đầu vào núi đá chết(5). Khi ấy ngài
còn bị Giác Hoàng đại sư yểm bùa ngăn cản mãi
sau mới đầu thai vào được. Con của Sùng Hiền Hầu sau này
tức là vua Lý Thần Tôn(6). (Đến nay Làng Láng
mấy năm lại mở đại hội một lần, vì trong mấy làng đó
có thờ ngài Đạo Hạnh, tục gọi là Từ Đại Thánh
và Pháp sư Đại Điên. Khi có hội (hội Lãng
vẫn có tiếng, ở gần Hà Nội) dân làng lại diễn
lại tích ngài Đạo Hạnh và Pháp sư Đại Điên
đánh nhau. Ở Sài Sơn cũng còn thờ ngài Đạo Hạnh.
Sài Sơn ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây bây giờ).
(Có sách cho chuyện này là huyễn hoặc
và bác đi, nhưng tưởng ta cũng không nên tin hẳn.
Ta chỉ nên nhớ rằng những chuyện ấy đối với những tà thuật của
Đạo giáo là một sự thường và nhân đó ta
có thể biết rõ rằng Phật giáo pha lẫn với Đạo giáo
bắt đầu từ lúc ấy
Nguyên pháp của Thiền Tôn là phép
Thiền định, tập trung tư tưởng, luyện nhân thần nhân diện như
thôi miên học của Thái Tây bây giờ. Khi tâm
đã chuyên nhất, trí đã mở thì ở người ta
có thể phát hiện nhiều thần thông mới lạ. Nhưng nếu người
tu hành nhận lầm thần thông ấy là cứu cánh trong
sự tu hành của mình, như vậy là sai lạc chân lý
và không khéo thần thông ấy lại trở thành
tà thuật, những pháp thuật ấy có thể gần với pháp
thuật của Đạo giáo, nên hai phái ấy có thể hỗn
hợp được. Xét thế, sau này ta khỏi lấy làm lạ khi thấy
các Sư tu chùa cũng cúng cấp yểm bùa, thần chú.
Ấy là vì càng về sau Phật giáo càng bị
những tà đạo hạ cấp xen vào, nên Phật giáo mới
lạc mật tôn chỉ và luật pháp của Phật Thích Ca
vậy).
5.- Lý Thần Tôn
(1128 - 1138)
Lý Nhân Tôn không có con, lập
con của Hoàng đệ là Sùng Hiền Hầu lên làm
Thái tử, Thái tử sau lên ngôi tức là Thần
Tôn.
Năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (1136), vua mắc bịnh nặng
có nhờ Minh Không Thiền sư chữa khỏi, liền phong cho Thiền sư
làm Quốc sư và sắc lập chùa Linh Cảm.
- Minh Không Thiền sư: Họ Nguyễn, húy là Chí
Thành, quê ở làng Đàm Xá, thọ giáo
với ngài Từ Đạo Hạnh, ở chùa Thiên Phúc. Ngài
tu hành rất có chí, nên được Đạo Hạnh truyền hết
bí pháp cho. Đến khi ngài Đạo Hạnh sắp tịch có
bảo ngài Minh Không rằng:
"Xưa đức Thế Tôn đạo quả đã viên mãn
rồi mà còn quả báo, huống chi đời mạt kiếp này.
Ta đây kiếp sau làm nhân chủ, nhưng tất bị quái
bịnh, người đã có duyên với ta thì nên đợi
mà cứu ta". Nói rồi Đạo Hạnh liền hóa và đầu
thai làm con của Sùng Hiền Hầu tức là vua Lý
Thần Tôn sau này.
Ngài Minh Không ghi lời thầy dạy, sau khi Sư phụ
hóa kiếp, liền trở về quê ẩn dật đến 20 năm, không cầu
danh tiếng gì. Đến năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (1136), vua
Thần Tôn tự nhiên bị mắc một quái tật, tâm thần
rối loạn, gầm thét như hùm mà người thì mọc lông
ra như lông hổ. Các lương y trong nước đều phải bó tay.
Một hôm chợt có tiếng của trẻ con vỗ tay hát:
Tập tầm vông! Tập tầm vông!
Có ông Nguyễn Minh Không.
Chữa được Thần Tông Hoàng Đế.
Triều đình liền đi dò hỏi rước ngài về kinh.
Khi ngài đến nơi, thấy trong điện có nhiều Tăng sĩ, Pháp
sư, lương y xúm nhau lại bàn bạc để chữa bệnh cho Hoàng
đế. Thấy ngài quần nâu, áo vải quê mùa,
các người kia đều tỏ vẻ khinh bỉ và nghi ngờ. Ngài chào
hỏi căn vặn, liền lấy một cái đinh dài 5 tấc đóng vào
cột mà bảo:
- Ai nhổ được cái đinh này mới chữa được bịnh cho
Thiên tử.
Nhưng không ai làm được, ngài mới nhón
ngón tay khẽ rút lên, thì cái đinh ra rất
nhẹ nhàng.
Bấy giờ mọi người mới kinh sợ và để ngài tự ý
chữa bệnh cho vua.
Khi vào thăm bệnh vua thì ngài thét
to lên rằng:
- Đại trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì
bốn bể, sao lại làm cách cuồng loạn thế?
Vua Thần Tôn trong lúc cơn mê, nghe nói
thì giật mình kinh hãi và không lồng lộn
ghê gớm nữa. Ngài Minh Không liền truyền đun sôi
một vạc nước và bỏ cái đinh ban nãy vào làm
phép, sau đem ra tắm cho vua, thì bao nhiêu lông
rụng hết và bệnh cũng khỏi dần.
Sau Thần Tôn phong cho ngài làm Quốc sư ăn
lương vạn hộ. Ngài mở trường dạy rất đông đệ tử. Đến năm Đại
Định thứ hai vua Anh Tôn (1141), ngài hóa. Hiện nay ở
làng Võng Thị (vùng Bưởi trên bờ hồ Tây
Hà Nội) có thờ ngài làm Thành Hoàng.
Ngoài ra, thời ấy lại có nhiều Thiền sư khác,
gòng giỏi của ba phái Thiền Tôn Tì Ni Đa Lưu Chi,
Vô Ngôn Thông, Thảo Đường mở đạo trường dạy đệ tử hoặc
đi hành hóa, dùng pháp thuật cứu giúp
kẻ bệnh tật trong thiên hạ.
Đời này có một vị sư là Diệu Nhân,
húy là Ngọc Kiều, con gái của một vị Hoàng thân:
Lý Phụng Quì. Vua Lý Thánh Tôn nhận làm
con nuôi sau gả cho người họ Lê làm Tổng đốc châu
Đăng Châu. Khi quan Tổng đốc mất, bà thọ giới với Chân
Không Thiền sư và Trú trì ở chùa Hương
Hải làng Phù Đổng. Đó là một vị Ni đầu tiên
nhập đạo của phái Tì Ni Đa Lưu Chi.
Trong đời vua Thần Tôn cũng có nhiều vị Thiền sư
danh tiếng như Thông Biện Thiền sư, Bảo Giám Thiền sư
- Uông Biện Thiền sư: Họ Ngô, quê ở Đan Phượng
(Hà Đông), Trú trì ở chùa Phổ Minh (huyện
Từ Liêm Lúc nhỏ ngài đã thông tuệ, kiến
thông cả ba món Nho, Thích, Đạo; sau thọ giới với Viên
Chiếu Thiền sư. Khi đắc đạo rồi, ngài ra ở chùa Quốc Tự (Thăng
Long), tự hiệu là Trí Không. Một hôm bà
Nhân Hoàng Thái Hậu hội yến chư Tăng, giữa tiệc bà
hỏi gốc tích đạo Phật cùng các tôn phái
và lịch sử Phật giáo khi mới du nhập vào nước ta, ngài
tâu lại rất rõ ràng. Thái hậu bằng lòng,
phong ngài làm chức Tăng lục, sau lại triệu vào phong
chức Quốc sư để Thái hậu tham hỏi lý nghĩa kinh điển đạo Phật.
Đến khi già, ngài mới trở về mở đạo trường dạy nhiều đệ tử.
Ngài tịch năm Giáp Thìn (1134).
6.- Lý Anh Tôn
(1138 -1175).
Thần Tôn mất, triều đình tôn Thái tử
Thiên Tệ lên làm vua, đế hiệu là Anh Tôn.
Anh Tôn là đệ tử của Không Lộ Thiền sư (phái Thảo
Đường) được truyền tâm pháp, tức là đời thứ tư của phái
Thảo Đường. Ngài sắc nhân dân phải gọi ngài là
Phật.
Những Thiền sư có tiếng hồi ấy như Trí Thuyền, Am
Trí, Bảo Giám, Viên Thông v.v...
- Bảo Giám Thiền sư: Ngài họ Kiều, húy là
Phù, xuất thân là một nhà Nho đã từng làm
quan ở triều, sau thọ giáo với ngài Trưởng Lão Thiền
sư.
- Viên Thông Thiền sư: Ngài họ Nguyễn, húy
là Ức quê ở Nam Định, Trú trì ở chùa Quốc
An. Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, theo học với Viên Học Thiền sư,
đã từng dự hai khoa thi Tăng đạo đều đậu đầu cả.
Năm thứ tư niên hiệu Đại Định (l143), ngài được phong
làm Quốc sư. Ngài tịch vào năm Đại Định thứ12 (1151),
thọ 72 tuổi.
Ngài có trước tác những bộ sách hiện
nay còn lưu hành:
Chư Phật tích duyên sự (30 chương).
Hồng chung văn bi ký.
Tăng-già tạp lục (50 chương).
Một ngàn bài thơ.
7.- Lý Cao Tôn (1176 - 1210).
Anh Tôn mất, Thái lử Long Cán nối ngôi,
hiệu là Cao Tôn. Cao Tôn mới có ba tuổi, ông
Tô Hiến Thành làm phụ chính. Sau Cao Tôn
thọ giáo với ngài Trương Tam Tạng Thiền sư về phái Thảo
Đường(7).
Cùng học với Cao Tôn, có một người Quảng Giáp
Ca Nhi (Quảng Ca) tên là Nguyễn Thức, sau cùng cũng được
Trương Tam Tạng truyền tâm pháp(8).
Kế đời vua Anh Tôn và Cao Tôn, tuy vua cùng
các bà phi, các quan triều (như Thái úy
Tô Hiến Thành, Thái Bảo Ngô Hòa Nghĩa) đều
sùng mộ đạo Phật, nhưng về sự phát triển không có
gì đặc sắc đáng kể, tuy triều vua Anh Tôn (1169) có
sắc mở khoa thi tam giáo để kén người vào làm
việc quan.
8.- Lý Huệ Tôn (1211
- 1225).
Thái tử Sam nối ngôi Cao Tôn tức là
Huệ Tôn. Lúc này nhà Lý đã suy lắm,
trong triều thì nội loạn, ngoài nhân dân cũng không
được yên ổn, vua cũng long đong. Bởi thế, Phật giáo cũng chỉ
là bảo thủ .
Năm Kiến Gia thứ 14 (1224), vua Huệ Tôn chán đời
ông Hoàng đế, liền truyền ngôi cho con gái là
công chúa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng, rồi
xuất gia ở chùa Chân Giáo, tự xưng là Huệ Quang
Đại sư.
Sau Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng
là Trần Cảnh. Thế là hết đời nhà Lý. Xét
ra Phật giáo nước ta thì đời nhà Lý là
thạnh nhất. Trong 215 năm trời, trải 8 đời vua, vua nào cũng sùng
tín đạo Phật. Xưa nay, một đạo một tôn giáo hay một học
thuật nào, bao giờ cùng phải dựa theo khuynh hướng của chính
trị, nên Phật giáo thạnh về đời này là phải.
Trong hơn 200 năm, Phật giáo giữ địa vị độc tôn,
trong nước đã có bao nhiêu sự mới lạ. Trong sách
"Danh triết lục" của Trần Ký Đằng có chép: "Trước đời
Lý Nhân Tôn chưa có khoa cử, những kẻ thông
lệnh nhanh nhẹn đều phải đo phái Thích đạo lựa chọn và
cất nhắc cho..." Như vậy đủ biết văn hóa, học thuật và chính
trị thời ấy hầu hết đều ở trong tay các nhà tu hành.
Bởi vì những nhà mô phạm bấy giờ toàn là
các vị Tăng sĩ, Thiền sư. Ngay như các vị Hoàng đế,
phần nhiều cũng là thọ giới ở nơi các bậc Cao Tăng cả.
Lại thấy đời ấy có bao nhiêu vị Thiền sư, khi đắc
đạo rồi là về mở đạo tràng để dạy có hàng nghìn
đệ tử đủ biết nhân dân sĩ thứ đời này đều qui hướng về
một Phật đạo.
Nhưng cuối đời nhà Lý thì Phật giáo
như phải bị lệnh đốn, các nhân tài trong các phái
hầu đã kém sút nhiều.
PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ
TRẦN (1225 - 1400)
1.- Trần Thái Tôn (1225
- 1258).
Lý Chiêu Thánh Hoàng đế truyền ngôi
cho chồng là Trần Cảnh, tức là Trần Thái Tôn,
Trần Thái Tôn lên ngôi vua mới có 8 tuổi,
việc hành chính trong nước đều do tay Thái sư Trần Thủ
Độ thu xếp.
Trong sách "Đại Nam thực lục chính biên" có
chép: "Năm Kiến Trung thứ 7 (1231), vua Thái Tôn sắc
cho nhân gian phải vẽ hình Phật ở khắp các nơi công
quán và các nơi công chúng hội họp". Sách
lại chép thêm: "Vua Thái Tôn lúc nhỏ đi
xem đám rước thần, có gặp vị Tăng nói sau ngài
sẽ làm vua, rồi vị Tăng ấy biến mất, nên ngài mới có
lời sắc ấy".
(Lời cước chú ấy có vẻ huyền hồ lắm. Vả Thái
Tôn bấy giờ mới có 14 tuổi, việc triều chính đều ở tay
Thủ Độ định đoạt cả, vậy có thể nói đó là sự
hành động của Trần Thủ Độ. Nhưng làrn thế để làm gì?
Hoặc giả là một "cách" làm chính trị chi đó
mà ta chưa rõ chăng? Vì Thủ Độ là một tay xảo
quyệt trong nghề chính trị; có lẽ nào triều chánh
thật tâm truyền bá đạo Phật hoặc vua nhớ ơn Phật (?) Hoặc giả
vì Thái sư Trần Thủ Độ thường làm những việc trái
đạo lý, như bức tử vua Lý Huệ Tôn ở chùa Chân
Giáo và kết duyên với người chị họ, nguyên là
vợ vua Lý Huệ Tôn. Mà trong triều bấy giờ vẫn còn
các vị Tăng Thống Pháp sư, bên ngoài thiên
hạ còn sùng tín đạo Phật nên Thủ Độ làm
ra thế để che mắt thiên hạ chăng?
Nếu đúng như lời ấy, thì do đó ta có
thể tin rằng cuối đời Lý, đạo Phật tuy không phát triển
mạnh, nhưng đến đầu đời nhà Trần vẫn còn quyền thế, dân
gian còn theo đuổi mạnh mẽ).
Năm Đinh Dậu (1237), nhân bị Trần Thủ Độ ép làm
việc thương luân, vua Thái Tôn chán nản cảnh đời
liền bỏ vào chùa Phù Vân núi Yên
Tử(1) yết kiến Phù Vân Quốc sư, xin ở lại tu hành. Biết
tin ấy, Trần Thủ Độ liền đem quần thần đến rước Thái Tôn về.
Thái Tôn không chịu về, nói rằng:
"Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các
quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc".
Thủ Độ khuyên mãi không được, liền bảo các
quan rằng:
- Hoàng thượng ở đâu thì triều chính
ở đó.
Nói đoạn truyền sắp sửa xây dựng cung điện ở chùa
Phù Vân. Thấy thế, Quốc sư liền đến mời xin Thái Tôn
về và tâu:
"Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong
tâm, nếu Thánh Thượng hiểu được tâm thì đứng đâu
là Phật ở đấy".
Thái Tôn bất đắc dĩ phải truyền xa giá về
kinh. Nhưng cũng vì câu nói của Phù Vân
Quốc sư mà Thái Tôn hiểu rõ đạo Phật. Ngài
khuyến khích trăm quan theo gương ngài; nên ngài
có lập Viện Tả Nhai cho các vị Vương hầu ra đó học tập
đạo truyền.
Bởi thế, Thái Tôn hiểu đạo Phật rất sâu xa.
Ngài có làm hai bộ sách trong thời kỳ này.
Cuốn "Thiền tôn chỉ nam" và cuốn "Khóa hư". Đó
là hai cuốn sách bàn giải về đạo Phật rất có
giá trị, có thể gọi là hai bảo vật trong rừng Thiền
về nền Phật giáo nước ta. Sách "Thiền tôn chỉ nam" giải
bày đạo lý tu Thiền; sách "Khóa Hư" nói
rõ cái khổ sanh, lão, bệnh, tử của đời và phá
tan các tánh cố chấp, thành kiến của thế gian viết bằng
lời khuyến lệ. Hai sách đều còn lưu truyền ngày nay.
Ngài là người hiểu rõ đạo Phật một cách
thấu đáo nên ngài luận đúng được nguyên
lý của đạo Phật.
Dưới đây là bài thơ của ngài tặng cho
vị sư ở chùa Thanh Phong:
Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình,
Tâm đầu cảnh sắc cọng thê thanh.
Cá trung tư vị vô nhân thức,
Đương dự sơn Tăng lạc cọng minh.
Dịch:
Gió đập hiên tùng nguyệt dọi sân,
Tình này cảnh ấy luống bâng khuâng.
Mùi Thiền trong đó nào ai biết,
Thức suốt đêm trường vui với Tăng.
Ngài thường mời các Cao Tăng vào cung để
bàn luận về Phật pháp.
Năm Thiên ứng Chánh Bình thứ 16 (1247), triều
đình mở khoa thi tam giáo. Hai năm sau sắc trùng tu
chùa Chân Giáo. Năm Nguyên Phong thứ 6 (1256) sắc
đúc 330 quả chuông treo ở các chùa.
Đến năm Đinh Tỵ (1257), Thái Tôn tạm dẹp việc kinh
điển để ngự giá đi đánh quân Mông Cổ. Nguyên
bấy giờ nhà Tống bên Trung Hoa bị quân Mông Cổ lấy,
lập ra nhà Nguyên. Vì sự xích mích giữa
nhà Trần và nhà Nguyên, quân Mông
Cổ liền kéo sang nước ta. Thái Tôn đi đánh bị
thua, bỏ kinh đô chạy về Thiên Mục (Hưng Yên). Được ít
lâu, Thái Tôn trở lại đuổi được quân địch, lấy lại
kinh đô.
Năm sau, Thái Tôn nhường ngôi cho con là
Thái tử Trần Quán, tức Thánh Tôn, để dạy cách
trị dân. Triều đình tôn ngài lên làm
Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Thượng Hoàng
ngự ở cung Thiên Trường.
Năm Thiệu Long thứ 5 (1262), Thượng Hoàng sắc dựng chùa
Phổ Ninh ở phía Tây điện Thiên Trường.
Năm thứ 12 niên hiệu ấy (1269), hoàng thân
Quốc Thương (anh ruột vua Thánh Tôn) lập một sở tịnh xá
rất lớn ở Diễn Châu (Nghệ An), để công chúng đến lễ Phật
và nghe thuyết pháp.
Năm Bảo Phù thứ 5 (1277), Thái Thượng Hoàng
băng, thọ 60 tuổi.
2.- Trần Thánh Tôn
(1258 - 1278).
Vua Thánh Tôn cũng sùng tín đạo Phật,
nhưng có phần mở mang về Nho học hơn. Ngài cho hoàng
đệ là Trần Ích Tắc mở học đường để những sĩ từ học tập. Thời
này Nho học thạnh hành, nhưng bên Nho cũng không
hại cho bên Thích. Ngoài nhân gian các Cao
Tăng vẫn tiếp tục mở đạo đường để giảng dạy đệ tử.
3.- Trần Nhân Tôn
Năm Mậu Dần (1278), Thánh Tôn lên ngôi
Thái Thượng Hoàng, nhường ngôi cho con là Thái
tử Khâm, tức Trần Nhân Tôn. Nhân Tôn là
một vị vua sùng mộ đạo Phật từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm
Hoàng Thái tử, ngài cố nhường lại cho em, nhưng vua
cha không chịu. Một hôm ngài trèo thành
trốn đi, định vào núi Yên Tử tìm một vị Thiền
sư. Nhưng đến chùa Đông Cứu (?) thì trời vừa sáng,
trong mình mệt quá, mới vào nằm nghỉ trong tháp
chùa. Nhà sư Trú trì ở đó thấy ngài
tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha
được tin, sai các quan đi tìm thấy, ngài miễn cưỡng
phải về. Đến khi lên ngôi thiên tử, ngài vẫn giữ
mình thanh tịnh để tu tập phép Thiền. Thường đêm ngài
nghỉ ở chùa Tư Phúc. Ngài tham học với Tuệ Trung Thượng
Sĩ(2). nên ngài hiểu thấu đạo truyền.
Nhưng trong khi ấy giặc Nguyên quấy rối, ngài phải
xếp việc kinh kệ để lo gìn giữ xã tắc. Bấy giờ giặc Nguyên
là Thoát Hoan, Ô Mã Nhi hai lần sang quấy rối.
Nhưng vua được những đại tướng như Hưng Đạo Vương, Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản,
Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Khánh Dư, v.v... giúp,
nên chẳng bao lâu trong nước lại thái bình.
Nước loạn thì ngài ra trị loạn, nước yên thì
ngài lại về nghiên cứu kinh điển nhà Phật.
Năm Quý Tỵ (1293), Nhân Tôn truyền ngôi
cho con là Anh Tôn và lên làm Thái
Thượng Hoàng. Dạy con được ít năm, năm Kỷ Hợi (1299), ngài
vào tu ở núi Yên Tử, lấy tự hiệu là "Hương Vân
Đại Đầu đà", lập trường giảng Pháp độ trăng, môn đồ lần
lượt tìm đến trước sau kể có hàng vạn. Ngài lại
đi khắp các nơi, sức dân gian hủy phá các dâm
tà và thuyết pháp khuyên dân làm
mười điều thiện. Tiếng là trú trì ở núi Yên
Tử mà ngài thường đi khắp nhân gian lập đàn giảng
đạo. Đi theo ngài chỉ có 10 người đệ tử thân tín.
Trong số ấy có Pháp Loa Thiền sư là thân cận hơn
cả. Thiền sư thường bạch ngài rằng: "Tôn đức bây giờ xuân
thu đã cao, mà cứ xông pha mưa tuyết vất vả cực khổ như
vậy, lỡ khi nóng lanh bất kỳ, thì mạng mạch Phật pháp
trông cậy vào đâu?"
Ngài liền dạy rằng:
- Thời tiết sắp đến nơi rồi, ta chỉ còn đợi ngày
giải thoát nữa thôi.
Được 10 ngày, ngài về thăm bệnh bà chị là
Thiên Thụy công chúa. Khi trở về núi, đi được nửa
đường, ngài bảo mấy người đồ đệ rằng:
- Ta muốn lên am Ngọa Vân(3). mà sức chân
yếu quá.
Đệ tử bạch:
- Đệ tử chúng tôi xin phò Tôn Đức đi.
Ngài liền để cho đệ tử dìu lên. Khi đến am
Ngọa Vân, ngài gọi Pháp Loa Thiền sư đến, cười mà
bảo:
- Ta sắp đi đây.
Pháp Loa Thiền sư bạch:
- Tôn đức đi đâu bây giờ?
Ngài liền đọc bài kệ:
Nhất thiết pháp bất sanh,
Nhất thế pháp bất diệt,
Nhược năng như thị giải,
Chư Phật thường hiện tiền,
Hà khứ lai chi hữu.
Đại khái nói: "Hết thảy các pháp trong
thế gian, vốn không sanh diệt. Nếu hiểu được như vậy, thì Phật
thường hiện ở trước mất, chẳng có đi đâu, mà cũng chẳng
có lại đâu cả ".
Nói vậy rồi, ngài dặn Pháp Loa Thiền sư hết
mọi việc về sự truyền bá Phật pháp; ngài ngồi chấp tay
mà hóa. Pháp Loa Thiền sư liền làm lễ rồi rước
ngài lên hỏa đàn. Vua Anh Tôn cùng đình
thần đem long giá rước ngọc cốt về an thế ở Đức Lăng và xây
tháp ở chùa Vân Yên núi Yên Tử, lấy
tên là "Huệ Quang kim tháp" và dâng tôn
hiệu là: "Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà
Tỉnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật".
Xét Thiền Tôn ở ta nói ở Bắc thì đúng
hơn. Còn lưu truyền đến nay là nhờ ở phái Yên
Tử được phát đạt là do Trúc Lâm Tam tổ đứng đầu,
mà Trần Nhân Tôn chính là đệ nhất tổ vậy.
Ngài tịch vào năm Long Hưng thứ 16 (1308), thọ 51 tuổi.
Khi vua Nhân Tôn vào núi Yên Tử
thì Khâm Từ Hoàng hậu cũng xuất gia làm Ni.
- Tuệ Trung Thượng Sĩ(4): Ngài húy là Quốc
Toản, con trai của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (xem thêm chú
thích ở cuối chương này), được phong làm Hương Nhượng
Vương. Giặc Nguyên hai lần sang xâm chiếm nước ta, ngài
đi theo Hưng Đạo Vương lập được nhiều chiến công, làm đến chức
Tiết Độ Sứ tại Thái Bình.
Ngài chí khí cao siêu, dung thần thanh
nhã, lúc nhỏ đã có lòng mộ đạo, nhân
đến thăm Tiêu Giác Thiền sư(5), nghe giảng thuyết mà
tỉnh ngộ, ngài liền tuyệt ý công danh, chuyên tâm
học đạo, từ chức lui về phong ấp là Vạn Niên Hương. Khi ngộ
đạo, ngài thường lập đàn giảng pháp.
Ngài tuy chức cao quyền lớn, mà đối đãi với
dân chúng rất giản dị, nên mỗi khi đăng đàn thì
môn đồ thiện tín đến dự thính rất đông.
Nhơn một hôm người môn đệ hỏi ngài về lẽ sống
chết, ngài đáp bằng hai câu kệ rằng:
Trường không túng sử song phi cốc,
Cự hải hà phòng nhất điểm âu.
Dịch:
Ngại gì bọt nước sôi ngoài bể,
Phỏng có vành xe liệng giữa trời.
Vua Thánh Tôn rất kính trọng ngài,
tự hiệu ngài là "Tuệ Trung Thượng Sĩ" và ký thác
vua Nhân Tôn cho ngài. Ngài hết lòng dạy
bảo Nhân Tôn về phần đạo lý. Khi trong nước có
giặc ngài lại lấy võ công mà giúp Nhân
Tôn.
Một hôm Khâm Từ Hoàng hậu (em gái ngài)
thiết tiệc lớn đãi ngài. Trong tiệc dọn đủ đồ chay đồ mặn,
ngài dùng cả các món thịt cá. Hoàng
hậu lấy làm lạ hỏi rằng:
- Anh đã tu mà lại ăn cả thịt cá sao thành
Phật được?
Ngài cười:
- Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm
ra Phật, cũng như Phật chẳng cần làm ra anh. Hoàng hậu chẳng
nghe Cổ đức nói: "Văn Thù là Văn Thù mà
giải thoát là giải thoát" đó ư?
Xem vậy thấy đạo Phật trong tư tưởng ngài thật phiêu
dật phóng khoáng không câu nệ, cố chấp điều gì.
(Chỗ này rất nên chú ý đừng nên lầm sự vô
ngại của các ngài đã giải thoát "làm mà
không trú tâm tham trước" với những hành vi phóng
túng buông lung mà ngụy biện là giải thoát.
Đối với người tu hành bao giờ cũng phải lấy thanh tịnh trì
giới là gốc).
Khi gần hóa ngài khiến người nhà kê
ghế giữa căn nhà trống, ngồi tựa vào ghế mà tịch. Các
nàng hầu khóc lên, ngài liền mở mắt ra quở rằng:
- Sanh tử là lẽ thường, có gì đáng
thương xót mà làm nhiễu tâm hồn ta như thế?
Các nàng hầu phải im khóc; ngài lại
nhắm mắt thị tịch. Ngài thọ 62 tuổi.
Vua Nhân Tôn nhớ ơn ngài dạy dỗ, liền sai thợ
vẽ chân dung để thờ và lấy đạo của ngài truyền cho mà
tuyên dương, lập nên phái Trúc Lâm.
- Pháp Loa Tôn sư: Ngài họ Đồng, người làng
Cửu La, phủ Nam Sách (nay là làng Tiền Trung, tổng Vũ
La, Hải Dương), mẹ là Vũ thị Nguyên, mấy lần trước, bà
mẹ mấy lần sanh con gái đến chán nản không muốn sanh
con nữa, bèn uống thuốc phá thai hai lần mà không
công hiệu.
Đến khi sanh ngài thì mừng lắm, đặt tên là
Kiên Cương (cứng chắc). Ngài thiên tư đĩnh ngộ; năm 21
tuổi gặp ngài Điều Ngự (vua Nhân Tôn) khen là có
pháp nhãn, liền thâu làm đệ tử, đưa về núi
cho học đạo.
Ngài ngộ đạo rất sớm kinh điển đều tinh thông; ít
lâu đã được ngài Điều Ngự truyền giới pháp cho
và đặt hiệu là Pháp Loa. Khi ngài Điều Ngự trú
ở Báo An, huyện Siêu Loại thì lập ngài làm
giảng sư. Lúc ấy Huyền Quang(6) mới xuất gia có tới chùa
nghe giảng; ngài Điều Ngự trông thấy thâu làm đệ
tử rồi giao cho ngài trông nom dạy bảo.
Năm 25 tuổi, ngài phụng mệnh làm lễ khai giảng ở
chùa Siêu Loại, có vua và đình thần đến
dự lễ; ngài Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường
chỗ cho ngài giảng đạo. Lễ xong, ngài Điều Ngự đặt cho ngài
kế thế Trú trì ở chùa Siêu Loại làm chủ
Sơn môn Yên Tử và đem in kinh điển hơn 200 bộ giao phó
cho ngài.
Ngài có phụng sắc truyền giới xuất gia cho Tuyên
Từ Hoàng Thái hậu và Thiên Trinh - trưởng công
chúa.
Ngài phụng chiếu định chức các Tăng đồ trong nhân
dân, từ đó Tăng chúng mới có sổ sách rõ
ràng, đều do ngài quản lãnh cả. Trong một đời ngài,
đúc 1.300 tượng Phật, dựng 2 Đài giảng đạo, Tháp 5 ngôi,
Tăng đường 200 sở. Ngài độ cho Tăng Ni hơn 15.000 đệ tử đắc pháp
đến 3.000 người. Ngài có soạn cuốn "Đoạn sách lục" và
"Tham thiền yếu chỉ" nay còn lưu truyền.
Lúc gần tịch, ngài đem pháp bảo của ngài
Điều Ngự truyền cho, truyền lại cho ngài Huyền Quang, rồi đọc bài
kệ cho các đệ tử rằng:
Trần duyên rủ sạch từ xưa,(7).
Bốn mươi năm lẻ bây giờ là tiên.
Hỏi chi thêm bận thêm phiền,
Trăng thanh gió mát là miền tiêu giao.
Dặn dò đệ tử xong đâu đó thì ngài
tịch. Thọ 47 tuổi.
Ngài là Tổ Thứ hai của phái Trúc Lâm.
- Huyền Quang Tôn sư: Ngài họ Lý, người làng
Vạn Tải (thuộc tỉnh Bắc Giang bây giờ), cha là Tuệ Tổ có
công đánh Chiêm Thành nhưng không chịu ra
làm quan. Ngài hình dung kỳ dị nhưng bẩm tánh
thông minh, hai mươi tuổi đỗ Trạng Nguyên (bấy giờ Nho học đã
thịnh, nên có nhiều khoa thi tam khôi).
Trước khi thi đỗ, mẹ ngài có định hôn cho
nhưng trắc trở mãi. Đến khi thi đỗ, thì các nhà
phú quý tranh nhau gọi gả con gái cho, vua cũng gọi
gả công chúa, nhưng ngài đều từ chối. Cảm về nhơn tình
thế thái ngài có khẩu chiếm hai câu thơ rằng:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ Trạng tám nghìn nhơn duyên.
Từ đó ngài có ý chán đời mà
phát tâm tu đạo, tuy được bổ ra làm quan ở Viện Hàn
Lâm và đi sứ Trung Hoa. Một hôm ngài được đi theo
vua Anh Tôn nghe Pháp Loa Tôn sư thuyết pháp, ngài
liền giác ngộ. Ngài dâng biểu xin từ chức rồi xuất gia
thọ giáo với ngài Pháp Loa. Ngài thường cùng
ngài Điều Ngự và ngài Pháp Loa đi du lịch và
thuyết pháp khắp dân gian. Ngài có phụng mệnh
soạn ra sách "Chư phẩm kinh" và "Công văn tập".
Sau khi được ngài Pháp Loa truyền tâm ấn,
ngài Trú trì ở chùa Vân Yên núi
Yên Tử, Tăng Ni theo học dễ đến hàng nghìn. Rồi ngài
về cố hương thăm phần mộ, lập chùa, in kinh, mở pháp hội bố
thí cho kẻ nghèo làm rất nhiều việc công đức.
Năm 60 tuổi có xảy ra một việc: Vua Anh Tôn sai thị Bích
đến thử ngài. Nhưng sau khi thị Bích đã dùng
phương pháp man trá quỉ quyệt mà lừa ngài và
lấy được vật tin(8). đem về tâu man với vua là người đã
cám dỗ được ngài, khi ấy vua Anh Tôn có ý
hối hận than rằng: "Việc ấy nếu có thật, thì là tự ta
vô cố đặt lưới để lừa chim. Mà nếu không, thì người
không khỏi bị mang tiếng oan. Thật là tội lớn của ta". Vua liền
truyền mở hội Vô già mời Quốc sư về làm lễ.
Trong khi hành lễ có hiện nhiều phép lạ điềm
lành, ai nấy đều thất kinh, tin rằng đạo hạnh ngài đã
cao không đến nỗi bị thị Bích cám dỗ. Vua liền đứng dậy
tạ lỗi với ngài và bắt thị Bích hạ ngục.
Sau khi ngài tịch, vua ban tự hiệu là: "Trúc
Lâm Đệ Tam Dại Tự Pháp Huyền Quang Tôn Giả".
Vì ngài chính là Tổ thứ ba Phái
Trúc Lâm vậy.
Ba vị Tổ Trúc Lâm trên đây ta có
thể gọi là những bậc Giáo hoàng về thời ấy. Vì
ngoài sự tu hành đắc đạo, thuyết pháp độ sanh, các
ngài lại còn được đặc quyền cầm sổ Tăng tịch trong nước, thống
lãnh hết thảy Tăng đồ. Thật là một cách thống nhất Phật
giáo rất hay, tiếc rằng không biết sao, sau ngài Huyền
Quang thì như là không còn người nối nghiệp nữa.
4.- Trần Anh Tôn (1293 - 1314)
.
Ngài là Thái tử nối ngôi vua Nhân
Tôn, học trò Pháp Loa Tôn sư, ngài thường
đến diễn đàn nghe Tôn sư thuyết pháp, nên hiểu
được Phật pháp rất chánh đáng.
Niên hiệu Hưng Long năm thứ bảy (1299), nhơn Thái
Thượng Hoàng (Nhân Tôn) xuất gia, vua sắc ban cấp kinh
Phật cho khắp nhân dân trong nước.
Nguyên năm trước, sau khi đã thông hiểu với
nhà Nguyên xong, Thượng Hoàng sai sứ Trần Khắc Dụng đi
sứ Trung Hoa thỉnh được Đại Tạng kinh về để ở cung Thiên Trường để
khắc, in làm nhiều bản ban bố cho nhân gian; lại ấn hành
cuốn sách "Phật giáo Pháp sự đạo tràng công
văn cách thức" ban cho dân.
Niên hiệu Hưng Long năm thứ 21 (1303), Thái Thượng
Hoàng Nhân Tôn ngự ở Chiêm Thành về, vua
Anh Tôn thiết một đàn tràng lớn gọi là: "Vô
lượng Phật pháp" ở chùa Phổ Minh hành lễ phát
chẩn cho dân nghèo.
Kể Phật giáo đời nhà Trần cũng nằm về thời kỳ rất
thạnh. Nhưng đến đời vua Trần Anh Tôn hình như đã pha
lẫn đạo giáo vô nhiều. Sự pha lẫn ấy có lẽ bắt đầu từ
đời Lý (Xem chuyện Vạn Hạnh Thiền sư đời Lý Thái Tổ,
Từ Đạo Hạnh, đời Lý Nhân Tôn), nhưng đến đây càng
rõ rệt hơn và từ đây Anh Tôn đến cuối đời Trần,
qua đời Hồ rồi đến thuộc Minh nhất là thuộc Minh - Lạc Ma Giáo
lại truyền vào làm cho sự pha lẫn ấy trở nên một hại
lớn sau này.
Trong sử có chép: Một khi vua Anh Tôn đau
nặng, Bảo Từ Hoàng Hậu có mời các Tăng sĩ đến cúng
cấp và để xem lẽ sanh tử, nhưng Anh Tôn gạt đi mà phán:
"Tăng sĩ đã chết đâu mà biết được sự chết", nghe Tôn
sư thuyết pháp, nên ngài hiểu đạo Phật một cách
sáng suốt.
Tiếc thay vua Anh Tôn đã thông minh, biết ngờ
vực đạo Phật khi đã bị pha lẫn các tà đạo khác,
mà ngài không biết cách ngăn ngừa để lọc lấy phần
đạo Phật thuần túy.
Vẫn biết trong sự tu hành, tinh thần chuyên nhất
thì tâm quang phát hiện, tâm thanh tịnh thì
diệu dụng vô cùng. Nhưng dù thần thông diệu dụng,
người tu hành nên coi đó là một "phương tiện",
chớ không nên nhận làm sự thật. Nếu nhận làm sự
thật mà đem dùng thường thì trở thành huyễn thuật.
Ở đời người biết thì người không biết thì nhiều; sự sai
lầm và mất giá trị tự đó.
Sự cúng cấp phù chú ở nước ta, ngoài
Đạo Giáo đạo Phật còn bị pha lẫn vào nhiều thứ tà
đạo khác có lẽ từ Trung Hoa truyền sang.
Sử Trung Quốc có chép: "Trước khi Hốt Tất Liệt (tức
vua Thế Tổ nhà Nguyên (1279 - 1367) tức vua Mông Cổ cướp
thiên hạ của nhà Tống, thống nhất nước Trung Hoa) phụng mệnh
vua Hiến Tôn qua đánh Tây Tạng. Khi về, Hốt Tất Liệt có
đem theo một vị Tăng Lạt Ma giáo là "Phát tư Ba". Từ
đó Lạt Ma giáo bắt đầu lưu hành ở Mông Cổ, Mãn
Châu rồi truyền bá rộng ra.
Yếu nghĩa của Lạt Ma giáo là dùng sức "bí
mật chú, cầu tức thân thành Phật", cũng là một
bộ phận, trong Phật giáo, nhưng chú trọng về ấn chú
nhiều. Cũng vì sự quá thiên trọng ấy, dần dần về sau
người ta làm sai nhiều, đến trở nên một phái đầy hình
thức mê tín. Mà yếu điểm sai lầm ấy có lẽ ở chỗ
lòng người hay theo bướng, hiếu kỳ và chỉ làm mà
không hiểu.
Khi Hốt Tất Liệt lên ngôi vua, liền lấy Lạt Ma giáo
làm Quốc giáo, tôn Phát Tư Ba làm Quốc
sư, Giám đốc Phật giáo trong thiên hạ. Phát Tư
Ba tiếng tăm lừng lẫy đến nỗi Hốt Tất Liệt phải ban hiệu là: Hoàng
Thiên Chi Hạ, Nhân Nhơn Chi Thượng, Tuyên Văn Phụ Chánh,
Đại Thánh Chí Đức, Phổ Giác Chân Tri, Hựu Quốc
Như Y, Đại Bảo Pháp Vương, Tây Phương Phật Tử, Đại Nguyên
Đế Sư.
(Bấy giờ Phật giáo ở Trung Hoa rất đồi bại, mà Lạc
Ma giáo truyền vào ít lâu, dân gian đua
nhau mê tín thành ra lại càng tệ hại hơn)(9).
Thời ấy ngang với nước ta là đời vua Trần Thánh
Tôn, Trần Nhân Tôn.
Một đạo giáo đã ảnh hưởng rộng ở Trung Hoa như vậy,
rồi Trung Hoa với ta khi hòa khi chiến khỏi sao ngăn lấp được sự truyền
bá sang dân ta. Ngoài Lạt Ma giáo lại còn
những thổ giáo của Tây Tạng đồng thời truyền vào Trung
Quốc, lọc một lần nữa, thành ra những đạo giáo mạt lưu rồi
lại sang ta, dân ta rước lấy. Ấy thế là đạo Phật đến ngày
bất hạnh.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể gọi thời
này "Thời đại Phật giáo lạc đạo gốc".
Trong sách Quốc Triều Chính biên lại có
chép: "Niên hiệu Hưng Long thứ 19 (1311), vua Anh Tôn
nạp người con gái của vị Tăng lạ tên là Dụ Chi Ba Lam
vào cung". Vị Tăng lạ ấy trước thường qua lại ở triều vua Nhân
Tôn, có phép tịch cốc và đi trên mặt nước,
qua ở nước ta vài năm rồi về xứ. Năm ấy lại qua với người con gái
được nạp vào cung thì vị Tăng ấy ở lại và mất ở trong
thành.
Có lẽ đó là một người xứ Tây Tạng,
một nước thổ sản của các phù chú giáo (tantrisme).
Vậy hai năm vị Tăng sĩ ở triều vua Nhân Tôn, rồi triều vua Anh
Tôn lại ở hẳn, trong thời gian ấy tránh sao được sự truyền bá
Đạo Giáo. Tóm lại, Phật giáo ở Việt Nam về cuối đời
Trần, Tăng chúng đã công nhiên mời các giáo
chủ của các tà giáo và các tạp phần vào
ngồi chung với Phật Thích Ca trong các chùa. Đạo Phật
cứ lui dần để nhường chỗ cho đạo giáo, như vậy thì sao tránh
khỏi sự hiểu lầm để Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn ở đời
sau này ra mặt bài kích Phật giáo?
Nối vua Anh Tôn là Minh Tôn(10) từ đời Minh
luôn trở đi, nhà Trần đã bắt đầu suy, nhân dân
đã lại bị giặc ngoài đánh cướp mà trong nhà
vua thì lục đục, các quan triều đã chia bè đảng,
trong họ hãm hại nhau.
Rồi đến Hiếu Tôn, Dụ Tôn, Nghệ Tôn, đời nào
cũng không yên, quân thần thì gian nịnh, vua thì
nhu nhược lại cứ hay bắt chước ông cha nhường ngôi cho con -
nhường người con trên dưới 10 tuổi - để lên làm Thái
Thượng Hoàng.
Vận nước đã suy như vậy, nên các nước ngoài
dòm dõ. Hết Ai Lao đến Chiêm Thành, rồi lại nhà
Minh nhất thống nước Trung Hoa cũng sang hạch sách. Trong nhà
vua và ngoài triều đình đến dân gian thật là
lung tung rối beng.
Đến đây trong nước Nho học đã độc tôn rồi,
các Tăng sĩ lại làm lạc mất đạo gốc, nên Phật giáo
hầu như vô nghĩa và trở nên một tôn giáo
mê tín. Các nhà thuần nho đứng lên bài
xích. Bởi thế năm Đại Khánh thứ tám đời vua Trần Hiến
Tôn (1321), triều đình sắc mở một kỳ khảo hạch Tăng sĩ trong
nước, hỏi về nghĩa lý kinh Kim Cương. Đủ biết những lối tu hành
của Tăng sĩ bấy giờ cẩu thả và đáng ngờ lắm nên mới có
cuộc thi lạ lùng ấy.
Lạ nhất là đến năm Xương Phù thứ 5 đời vua Phế Đế
(1381) triều đình sắc Đại Nam Thiền sư thống suất Tăng chúng
trong nước đi đánh giặc Chiêm.
Thật ra thì đời ấy dân nước cũng quá hèn
yếu mà Tăng đồ thì trở nên một bọn vô ích,
gai mắt các phái Nho học rồi, nên họ cử đi vậy.
Đến đời Trần Thuận Tôn năm thứ 9 (1396), lai mở một kỳ sát
hạch Tăng chúng, người nào dự tuyển được là in các
chức Tri cung (coi việc các cung), Tri quán (coi việc các
đền) Tri tự (coi việc các chùa).
Ấy lại là một chứng để nhận thấy các Tăng sĩ vô
ích và thất thế đến nỗi phải đi thi để giữ chức coi việc các
cung vua và các đền miếu. Một hiện tượng suy đồi đã
rõ rệt?
Trong triều lại đến nạn Lê Quí Ly mưu việc tiếm ngôi.
Sử chép: "Quí Ly lập mưu cho người đạo sĩ vào cung,
xui vua Thuận Tôn nhường ngôi cho con mới có ba tuổi tức
Trần Thiếu Đế"
Thế là Quý Ly tiếm được ngôi vua và
lập ra nhà Hồ
PHẬT GIÁO
ĐỜI NHÀ HỒ (1400 - 1407)
ĐẾN ĐỜI THUỘC MINH (1414 - 1427)
Nhà Hồ lên làm vua cũng được hai đời trong
bảy năm, thì lại bị nhà Minh sang đánh. Nước ta lại
thuộc nhà Minh(1).
Năm 1419 quan nhà Minh tịch thu hết các sách
vở trong nước, các kinh điển nhà Phật đem về Kim Lăng và
đốt phá chùa chiền rất nhiều.
Sử chép: "Bọn Hoành Phúc (tướng nhà
Minh) ở lại sửa sang việc nước, để khiến cho người An Nam đồng hóa
với người Trung Hoa, lập ra đền miếu bắt người mình cúng tế
theo tục bên Trung Hoa v.v..., còn cái gì là
di tích của nước mình như là sách vở thì
thu nhặt đem về Trung Hoa hết sạch".
Và: "Nhà Minh bấy giờ không những là
mở mang Nho học mà thôi, lại lập ra Tăng Cương ty và
Đạo Kỳ ty để coi những việc thuộc về đạo Phật và đạo Lão. Rồi
sai các Tăng-già ở Tăng Cương ty, các đạo sĩ Đạo Kỳ
ty đi truyền giảng đạo Phật và đạo Lão".
Lịch sử Phật giáo ở Trung Hoa chép: "Đời Minh cả
hai giáo Lạt Ma và Thiền Tôn đều thạnh hành".
Xem vậy thì đại khái đoán được Phật giáo
ở nước ta lúc thuộc nhà Minh vậy.
Nhưng trong 13 năm thuộc Minh ấy, quan Trung Hoa thì tham
tàn, quan ta thì gian nịnh, tàn ác vô liêm
sĩ, dân tình cực khổ, nhiều nơi kéo cờ khởi nghĩa, trong
nước không lúc nào được yên. Phật giáo dù
được nhà Minh ủng hộ, nhưng lại phải theo một chính sách
riêng. Và từ cuối đời Trần đến đây, trong đám Tăng
đồ đã kém người sáng suốt, lại bị ở dưới quyền thế của
bọn Nho sĩ. Chừng ấy ta cũng đủ đoán biết sự điêu tàn
hoang phế của nền đạo lý.
May sao, một đấng anh hùng cứu nước, từ Lam Sơn mở vận
mới cho dân tộc, mà lập ra nhà Hậu Lê: Thái
Tổ Lê Lợi
PHẬT GIÁO
ĐỜI HẬU LÊ (1428 - 1527)
Nhà Hậu Lê kể từ vua Thái Tổ cho đến vua Cung
Hoàng cộng được 10 đời, trị vì trong 100 năm chẳn. Trong 10
đời vua ấy, vua Thái Tổ thì không chỉ có vua Thánh
Tôn và Thái Tôn lớn tuổi mới lên làm
vua, còn thì vua nào cũng có ít tuổi cả.
Nên trải những triều vua ấy, vua thì bị quyền thần lung lạc,
vua thì lớn lên sinh kiêu xa, dâm ác, khiến
nước nhà không mấy lúc được yên.
Phật giáo cũng vì thế mà không hưng
khởi lên được nữa. Nhất là hồi trước quan nhà Minh đã
tịch thu hết kinh điển, nên dù có những bậc mộ đạo đến
đâu cũng không lấy gì mà nghiên cứu. Bởi
thế, các Tăng đồ lúc ấy, nhân lúc dân nước
được tự lập, tự trị, dù có cố duy trì lấy đạo Phật thì
chẳng qua cũng là một sự tín ngưỡng theo hình thức thời.
Thời này Nho học đã thật làm bá chủ
cho văn hóa, các sĩ phu xô nhau vào khoa cử, miệt
mài trong tư tưởng Tống nho, triết lý nhà Phật không
làm danh làm lợi cho ai, tất bị bỏ quên.
Việc tu đạo đối với hạng ít học chỉ thành một kế
quyền nghi theo hình thức, với hạng sĩ phu thì chỉ là
một chỗ để người nào lận đận công danh, chán nản cuộc
thế,bất bình với thói đời, nghĩa là chỉ những người
yếm thế mới tìm đến để tiêu giao ngày tháng, mượn
cảnh chùa am, tiếng chuông câu kệ mà dứt bỏ cuộc
đời bên ngoài thôi; chớ không phải là mến
hiểu giáo lý của Phật mà tu hành, và ngộ
đạo, rồi lại đem đạo lý ra mà giác ngộ cho kẻ khác.
Bởi vậy, trong đời Hậu Lê có thể gọi là "thời
đại Phật giáo suy đồi".
Hãy xem sử chép những việc đối với Phật giáo
của đời Hậu Lê:
Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429 - Lê Thái Tổ) mở
một kỳ khảo hạch Tăng đạo. Người nào trúng tuyển thì
được ở chùa tu hành, người nào hỏng thì phải
hoàn tục.
(Việc ấy càng tỏ ra trong số Tăng đồ đầu đời Hậu Lê
phần nhiều là hạng ít học, tu hành là chỉ theo
hình thức không hiểu đạo gốc nữa. Vả có kinh điển đến
đâu mà nghiên cứu. Triều đình dù có
hòa với nhà Minh nhưng cũng không có ý
ủng hộ Phật giáo, thì ai nghĩ đến sự cầu kinh).
Năm Thiện Bình thứ nhất (1434 - Lê Thái Tôn),
trời đại hạn, vua sắc rước tượng Phật ở chùa Pháp Vân
về kinh làm lễ cầu mưa.
(Càng tỏ ra từ vua đến dân đã yên trí
Phật là "phép thần thông" như một vị thần của Lạt Ma
giáo hay Phù chú giáo).
Năm sau vua Thái Tôn sắc đúc tượng bà
Thái Hoàng Thái hậu (bà nội vua Thái Tổ).
Khi đúc xong, mời Huệ Hồng Thiền sư vào làm lễ điểm
nhãn.
(Thiền sư đã nghiễm nhiên một thầy phù thủy
ở chùa, đọc kinh Phật làm sư).
Niên hiệu Thái Hòa thứ bảy (1449 - Nhân
Tôn), trời đại hạn, vua sắc bộ lễ làm đảo vũ ở chùa Báo
Ân. Lại sắc rước tượng Phật ở chùa Pháp Vân về
chùa Báo Thiên mời các Tăng sĩ đến tụng kinh.
Bà Hoàng Thái hậu ra đứng chủ lễ.
(Phật hiển nhiên đã thành một vị tượng thần
cho dân Việt Nam tín ngưỡng).
Năm Quang Thuận nguyên niên (1460 – Lê Thánh
Tôn), sắc cấm các Tăng đạo không được qua lại với nhân
dân trong thành. Năm sau sắc cấm dân gian không
được làm thêm chùa; vì nhân dân lúc
ấy quá sùng tín đạo Phật, trong một năm làm không
biết bao nhiêu là chùa, nên mới có lệnh
ấy.
(Sùng tín mà đến nỗi Tăng đồ bị cấm không
được giao thiệp với dân và trong đời không có thêm
được một vị Cao Tăng, thì quả là tinh thần đạo Phật đã
tuyệt diệt. Sự ngăn cấm này phải chăng là vua sợ món
tín ngưỡng hình thức rộn ràng ấy sẽ nguy hại cho dân
chúng, hay chỉ là nghe lời dèm siễm thiên vị của
các ngoại đạo khác?)
Xét những điều kể trên, ta đủ biết Phật giáo
trong khoảng đời Hậu Lê này, chỉ còn là sự cúng
cấp cầu đảo, và Tăng đồ đã thành những tay sai đáng
thương hại của vua quan hoặc các nhà có tiền khi tự
cầu tài mặc dù bề ngoài như tuồng họ vẫn tôn kính.
PHẬT GIÁO
Ở THỜI ĐẠI NAM BẮC PHÂN TRANH (1528 - 1802)
Nhà Hậu Lê làm vua đến đời vua Chiêu
Tôn, Cung Hoành (1516 - 1527) thì bị Mạc Đăng Dung thoán
đoạt. Nhà Lê tuy mất ngôi, nhưng lòng người còn
tưởng nhớ đến công đức của Thái Tổ, Thánh Tôn,
cho nên nhiều người lại theo phò con cháu nhà
Lê Trung Hưng lên ở phía Nam, lập ra triều đình
riêng ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An để chống nhau với nhà
Mạc, thành ra Nam triều và Bắc triều hai bên đánh
nhau năm, sáu mươi năm trời.
Nhà Hậu Lê nhờ họ Trịnh giúp, dứt được nhà
Mạc, tưởng giang san lại thống nhất như cũ, ai ngờ họ Trịnh với họ Nguyễn
lại sanh lòng ganh ghét, gây nên mối thù
oán, rồi mỗi họ hùng cứ một phương, chia nước ra làm
hai mảnh : họ Nguyễn ở Nam, họ Trịnh ở Bắc.
Nhà Hậu Lê từ khi Trung Hưng lên, con cháu
vẫn giữ ngôi vua, nhưng quyền chính trị ở cả họ Trịnh.
Xét Phật giáo đến cuối đời Lê đã suy
đồi như trên nhưng đến thời đại này lại có cơ phục hưng.
Trong Nam ngoài Bắc lại thêm mấy phái Thiền Tôn
mới nữa.
Vào khoảng đời Lê Thế Tôn (1573 - 1599), ở
Bắc có phái gọi là Tào Động, cũng là chi
phái của phái Bồ đề Đạt-ma bên Trung Hoa(1) phái
ấy truyền vào bởi nhà sư Tàu Tri Giác Nhất Cú;
sau ngài Nhất Cú truyền cho ngài Thủy Nguyệt, ngài
Thủy Nguyệt truyền cho ngài Tôn Điền v.v... Những nhà
sư Trú trì ở các chùa Hòa Giai, Hàm
Long, Chấn Quốc ở Hà Nội bây giờ là theo phái
Tào Động.
Vào khoảng đời vua Lê Hy Tôn (1676 - 1705),
ở Bắc lại có phái gọi là phái Liên Tôn,
do một vị Vương công nhà họ Trịnh là Lân Giác
Thiền sư lập ra ở chùa Liên Phái (Bạch Mai - Hà
nội). Đồng thời sư Nguyệt Quang cũng lập phái ấy ở Kiến An. Ngài
Lân Giác với ngài Nguyệt Quang cùng là
đệ tử của ngài Chính Giác, ngài Chính
Giác là đệ tử của ngài Minh Lương, ngài Minh
Lương là đệ tử của ngài Chuyết Công (người Trung Hoa)
tức là chi phái của phái Lâm Tế (hiện nay những
chi phái của chùa Hàm Long ở Bắc Ninh, chùa Nguyệt
Quang ở Kiến An đều là chi phái của phái Liên
Tôn. Vậy ở Hà Nội bây giờ có hai phái Phật
giáo : Một ở chùa Bà Đá là chi phái
của Lâm Tế, một nữa ở chùa Hòa Giai là chi phái
Tào Động).
Từ năm Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719 - Dũ Tôn) đến năm Vĩnh Hựu
thứ ba (1737: Ý Tôn), chỉ thấy các chúa làm
chùa.
Năm Vĩnh Thịnh thứ 15 (1779), chúa Trịnh Cương sức dân
ba huyện Gia Định, Lương Tài, Quế Dương trùng tu chùa
Phúc Long, làm xong miễn thuế một năm cho ba huyện ấy. Chùa
Phúc Long ở về làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định
(Gia Bình), chúa Trịnh Tráng dựng ra từ năm Phúc
Thái thứ tám (1648). Năm Bảo Thái thứ 8 (1727), chúa
Trịnh Cương cho các nội giá lập chùa Thiên Tây
(ở làng Sơn Đình, huyện Tam Dương về địa phận núi Tam
Đảo) và chùa Độc Tôn (ở làng Cát Nô,
huyện Phổ An, tỉnh Thái Nguyên) và cho ra nghỉ ở đó.
Năm Vĩnh Khánh thứ hai (1730), chúa Trịnh Giang
sức dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường và Chí
Linh trùng tu chùa Quỳnh Lâm và chùa Sùng
Nghiên. Dân phu 6000 người làm luôn đêm ngày
đến một năm mới xong.
Năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736), chúa Trịnh Giang sức dân
các huyện Đông Triều, Kim Thành, Giáp Sơn, Thủy
Đường dựng chùa Hồ Thiên (ở trên chóp núi
thuộc huyện Bảo Lộc, trấn Kinh Bắc, tức Bắc Giang bây giờ) và
chùa Hương Hải (ở làng Phụ Vệ, huyện Chí Linh).
Năm Vĩnh Hựu thứ ba (1737), chúa Trịnh Giang dựng tượng
Phật lớn để thờ ở chùa Quỳnh Lâm sắc cho quan thay phiên
đến làm lễ. Cũng trong khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 - 1739),
ngài Trạm Công vâng sắc vua qua nước Đại Minh, non Đỉnh
Hồ, tham yết ngài Kim Quang Hòa thượng và sau thỉnh
được nhiều kinh điển đem về để tại chùa Càn An.
Đến năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740: Lê Hiến
Tôn), chúa Trịnh Giang lại tịch thu chuông các
chùa để đúc binh khí.
Năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771), dựng chùa Tiên Tích
ở ngoài cửa Đại Hưng (thuộc làng Nam Ngư), huyện Thọ Xương,
Hà Nội, nay là phố Hàng Bột).
Năm Chiêu Thống nguyên niên (1787), lại tịch
thu các đồ đồng ở chùa để đúc tiền.
Trong đời Hậu Lê cũng có một vài vị Cao Tăng
như Huệ Đồng Thiền sư, Lục Hồ Viên Cảnh Thiền sư, Đại Thâm Viên
Khoan Thiền sư, Hương Hải Thiền sư v.v... Những vị Thiền sư trên, không
thấy sử chép rõ ràng, chỉ có Hương Hải Thiền
sư có tiểu truyện trong sách Kiến văn lục của ông Lê
Quí Đôn.
- Hương Hải Thiền sư: Vốn dòng thế phiệt, ông cha
từng làm đến Quận công và phong làm Công
thần trong đời chúa Nguyễn. Mười tám tuổi đậu Hương cống (Cử
nhân), được kén vào phủ chúa Nguyễn rồi bổ ra
làm tri phủ Triệu Phong. Bấy giờ ngài mới có 25 tuổi,
mà rất hâm mộ đạo Phật; thường đàm luận với các
Danh Tăng, rất thâm hiểu đạo lý. Cách ba năm, ngài
xin từ quan xuất gia tu đạo. Ngài ra chơi ở núi Tiên
Bút La ngoài Nam Hải rồi lập am ở lại đó tu trì
Đạo hạnh ngài rất cao, quan dân xa gần thảy đều cảm mộ. Chúa
Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu: 1691-1725) sai người ra hải đảo mời về; khi
về đến nội địa, chúa Nguyễn thân ra đón tiếp, rồi lập
Thiền Tĩnh Viện ở núi Qui Cảnh mời ngài ở đó. Sau có
người dèm với chúa, nói ngài với Gia Quận công
âm mưu trở về Bắc với chúa Trịnh. Chúa Nguyễn đem việc
xét hỏi thì không có cớ gì, bèn
truyền cho ngài phải vào Quảng Nam. Bởi vậy, ngài mới
quyết chí ra Bắc thật. Ngài sắm một chiếc thuyền cùng
50 đồ đệ vượt bể về đến trấn Nghệ An, vào yết kiến quan trấn thủ là
Trịnh Na. Trịnh Na liền tâu về triều, chúa Trịnh cho thuyền
vào đón về kinh, triệu vào phủ hỏi han mọi việc. Được
ít lúc ngài lập am tu trì ở trần Sơn Nam. Ngài
có dịch và chú giải các kinh ra chữ nôm
được 30 thiên.
Vua Dũ Tôn (1706 - 1729) vì hiếm hoi về phần con
cái nên thường mời ngài vào kinh để lập đàn
cầu tự. Bấy giờ ngài đã 80 tuổi, vua rất kính trọng.
Môt khi vua hỏi ngài rằng: "Trẫm nghe Thiền sư học
rộng nhớ nhiều, vậy xin Thiền sư thuyết pháp cho nghe, để Trẫm hiểu
được đạo".
Ngài tâu rằng: Bần Tăng có bốn câu kệ
này, xin Bệ hạ để tâm, suy nghĩ:
Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,
Thẩm sát tư duy tử tế khan.
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,
Đương lai diện thượng đỗ sư nhan.
Dịch:
Nghe lại điều mình thấy những ngày,
Suy đi nghĩ lại kỹ càng hay.
Chớ tìm tri thức trong cơn mộng.
Có thế mới hay nhận được thầy?(2)
Vua hỏi: "Thế nào là ý của Phật?"
Ngài thưa:
Nhạn quá trường không,
Ảnh trầm hàn thủy.
Nhạn vô di tích chi ý,
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.
Dịch:
Nhạn liệng giữa không,
Bóng chìm dưới nước.
Nhạn không để dấu ở lại,
Nước chẳng lưu bóng làm chi.
Ngài thường đọc những câu kệ để dạy Tăng chúng
như câu:
Tầm ngưu tu phỏng tích,
Học đạo, quý vô tâm.
Tích tại ngưu hoàn tại,
Vô tâm đạo dị tầm.
Dịch:
Tìm trâu tìm dấu chân trâu,
Dâú còn trâu chẳng mất đâu bao
giờ.
Những người học đạo chớ ngờ,
Vô tâm thì đạo có cơ dễ tìm.
Ngài thường làm thơ, dưới đây là một
bài thơ trong các bài thơ của ngài:
Thành thị du lai ngụ tự triền,
Tùy cơ ứng biến mỗi thời nhiên.
Song chiêu nguyệt đáo thuyền sàn mật,
Tùng tiếu phong xuy tịnh khách miên.
Sắc ưởng lâu đài minh sắc diệu,
Thanh truyền chung cổ diễn thanh huyền.
Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể,
Nhậm vận hà tằng ý hữu thiên.
Dịch:
Chán cảnh phồn hoa mến cảnh thiền,
Tùy thời mới hiệp lẽ đương nhiên.
Trăng dòm song mở giường kê sát,
Gió thổi tùng reo giấc ngủ yên.
Lóng lánh lâu đài màu huyền
diệu,
Nhịp nhàng chuông trống tiếng u huyền.
Cho hay nhất thể đồng tam giáo,
Đạo cả chưa từng lệch một bên.
Đọc bài thơ này, ta thấy không những ngài
không quên mình là nhà Nho tu Phật, mà
lại muốn cho hai đạo học ấy ảnh hưởng với nhau, cho cả hai càng thêm
sáng suốt.
Nhưng không sao tránh khỏi nhược điểm của hai giáo
ấy trong thời này: Phật giáo về thời này tuy có
cơ hưng thạnh, nhưng sự thật đã yếu thế nhiều, nên phải xướng
thuyết “nhất thể” để cầu thân với Nho, Lão. Và đồng thời
đẳng cấp Nho giáo lúc này cũng đã bướcvào
tình thế suy lạc, nên lại phải mượn Phật giáo làm
chỗ an ủi. Bởi vậy, thời này rất có nhiều vị Nho sĩ đầu Thiền.
Mà ngài là người đại biểu.
Lại cũng trong thời này, ông Trịnh Huệ cũng xướng
thuyết "Nhất thể" làm sách "Tam giáo nhất nguyên
thuyết", để giải rõ ba giáo vốn đồng một gốc. Sách tuy
có lợi cho những người muốn tham học cả ba giáo, sự thật điều
đó càng giúp cho ta chứng rõ hướng ấy.
Phật giáo ở ngoài (Bắc) đến đó lại lâm
vào thời kỳ đình đốn. Trong sử không thấy chép
việc gì quan hệ Phật giáo nữa. Cũng bởi từ đó tình
thế trong nước rối ren, việc chinh chiến xảy ra luôn luôn
Trong lúc Phật giáo ở ngoài Bắc được phục
hưng, đồng thời trong Nam cũng có cơ xương thạnh. Nhất là khi
ngoài Bắc bị đình đốn, trong Nam lại phát đạt thêm
nhiều.
Từ khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận
Hóa, thì miền Nam được mở mang mọi phương diện. Trong hơn 200
năm, họ Nguyễn đối với Phật giáo hết lòng sùng thượng,
nào dựng chùa, nào đúc tượng, đúc chuông
rất nhiều.
Bấy giờ có những ngài Tế Viên Hòa thượng,
Giác Phong Lão tổ v.v... đều là người Trung Hoa đem
Phật giáo qua truyền bá ở An-nam.
Năm Ất Tỵ (1665), Dũng Quận công Nguyễn Phúc Tần
(1648 - 1687) (sau truy tôn là Thái Tôn hoàng
đế) lại có một vị Thiền sư người Trung Hoa đem An-nam, ban đầu trác
tích ở phủ Qui Ninh (Bình sinh) lập chùa Thập Tháp
Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập chùa Quốc ân truyền
chánh phái Lâm Tế ở nước ta; ấy là ngài
Thọ Tôn Hòa thượng, húy Nguyên Thiều.
PHÁI NGUYÊN THIỀU
Ngài họ Tạ, quê ở Trình Hương Triều Châu,
Quảng Đông, xuất gia năm 19 tuổi, tu ở chùa Báo Tư thọ
giáo với ngài Bổn Khao Khoán Viên Hòa thượng.
Niên hiệu Cảnh Trị năm thứ ba đời Lê Huyền Tôn (năm ất
Tỵ thứ 17 đời chúa Nguyễn Phúc Tần: 1665), ngài đi theo
thuyền buôn qua An-nam, trú ở phủ Qui Ninh (Bình Định)
lập chùa Thập Tháp Di Đà, mở trường truyền dạy; sau
ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung (thuộc huyện Phú
Lộc nay hãy còn), rồi lên Xuân Kinh (Huế) lập chùa
Quốc Ân và dựng tháp Phổ Đồng (?)
Sau ngài lại phụng mệnh đức Anh Tôn (Nguyễn Phúc
Trăng: 1687-1691) trở về Trung Quốc, tìm mời các Danh Tăng
và cung thỉnh pháp tượng, pháp khí.
Ngài về Quảng Đông mời được Thạch Liêm Hòa
thượng và các Danh Tăng khác, cùng thỉnh được
nhiều kinh điển tượng khí đem về. Chúa Nguyễn liền sắc mở đàn
truyền giới rất long trọng tại chùa Thiên Mụ. Sau đó
chúa Nguyễn sắc ban ngài chức Trú trì chùa
Hà Trung.
Một hôm ngài lâm bệnh, họp môn đồ lại
dặn dò mọi việc và ngài truyền cho bài kệ rằng:
Tịch tịch kỉnh vô ảnh,
Minh minh châu bất dung.
Đường đường vật phi vật,
Liêu liêu không vật không.
Đại ý:
Lặng lẽ gương không chiếu bóng,
Sáng trưng ngọc chẳng thâu hình.
Rõ ràng vật không phải vật,
Minh mông không chẳng là không.
(Nguyễn Lang, VNPGSL, tr.590)
(Diễn ra văn xuôi là ngài muốn khai thị cho
trong chúng biết: Thể pháp thân thanh tịnh sáng
suốt, như bức gương sáng sạch không bụi, như ngọc minh châu
trong sáng, bóng ngời, tuy hiện tiền sự sự vật vật sai khác,
nhưng đều là thể pháp thân biểu hiện thể pháp
thân thường vắng lặng mà không phải là không,
tức là lý "chân không diệu hữư").
Ngài viết xong bài kệ vừa ngồi yên lặng mà
tịch.
Ngài mất ngày 19 tháng 10 niên hiệu
Bảo Thái thứ 10 nhà Lê, đồ chúng cùng các
tể quan thọ giới đệ tử làm tháp Hóa Môn để chôn
cất hài cốt (tháp này bên đồi nhỏ xóm Thuận
Hóa làng Dương Xuân Thượng)
Hiến Tôn Hoàng đế ban thụy hiệu là: "Hạnh
Đoan thiền sư", và có làm bài minh khắc vào
bia để tán thán đạo đức của ngài:
Ưu ưu Bát-nhã,
Đường đường phạm thất.
Thủy nguyệt ưu du,
Giới trì chiến lật.
Trạm tịch cô kiên,
Trác lập khả tất.
Quán thân bổn không,
Hoằng pháp lợi vật.
Biến phú từ vân,
Phổ chiếu huệ nhậ.
Chiêm chi nghiêm chi,
Thái sơn ngật ngật.
Đại ý:
Cao vút trí tuệ,
Phạm hạnh vun trồng.
Giới đao một lưỡi,
Trăng nướng thung dung.
Ngồi đứng một thân,
Trong lặng kiên cường.
Hoằng pháp lợi người,
Quán thân vốn không.
Mây từ che khắp,
Trời tuệ chiếu cùng,
Ngắm đi ngắm đi,
Thái sơn oai hùng.
Ngài là vị Tổ truyền phái Lâm Tế đầu
tiên ở Trung kỳ. Các đệ tử được ngài truyền pháp
cho, hoặc các ngài dưới ngài cùng ngài
truyền giòng Lâm Tế, như ngài Minh Hoằng Tử Dung, Minh
Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Tri v.v...
Xét trong "Lịch Truyện Tổ đồ" thì ngài Nguyên
Thiều đứng về đời 69, xét về chánh thống phái Lâm
Tế thì ngài đứng về đời 33, mà truyền phái Lâm
Tế ở Trung kỳ thì ngài là Sơ tổ (xem bản đồ H).
Xét Lịch sử Phật giáo ở Việt Nam ta về khoảng này,
có đời chỗ mơ hồ, cần phải biện minh không thể bỏ qua được,
ấy là nói về lối truyền thống của phái Lâm Tế
do sau khi ngài Nguyên Thiều truyền sang.
Đành rằng ngài là vị Tổ đầu tiên truyền
phái Lâm Tế ở ta, nhưng trước tiên ngài đã
kế thừa nơi một ngài nào? Và sau, những ai là
người được truyền thọ pháp ấy? Muốn trả lời những dấu hỏi ấy không
phải chuyện dễ.
Nguyên do bởi ngài đã mang lấy hai danh hiệu:
Nguyên Thiều, Siêu Bạch.
Kể Phật giáo sau khi truyền qua Trung Hoa, vì phân
chia tôn phái có nhiều, nhất là về phái
ThiềnTôn lại có chia ra nhiều nhánh khác nhau.
Nên các ngài về sau lại sinh ra tư tưởng đặt những dòng
kệ để chấm dấu về thống hệ của mình. Như phái Thiền Tôn
truyền đời ngài Nghĩa Huyền, ngài lại lập ra nhánh gọi
là Lâm Tế. Lâm Tế truyền đến đời 21 là ngài
Vạn Phong Thời Ủy ở chùa Thiên Đồng (Trung Hoa) xuất ra bài
kệ: Tổ, Đạo, Giới(3) truyền đến đời 31 là ngài Đạo Mân
lại xuất một giòng kệ khác: Đạo, Bổn, Nguyên, Thành...(4).
Như trên đã nói: ngài đã mang
lấy hai danh hiệu: Nguyên Thiều và Siêu Bạch. Xét
danh hiệu Nguyên Thiều là thuộc về dòng kệ của ngài
Đạo Mân, tức là sư tổ của ngài mới lập ra Siêu
Bạch là thuộc về dòng kệ của ngài Vạn Phong, tức là
Tổ II đời của ngài truyền xuống. Do đó, người ta bảo ngài
đã thọ giáo cả hai bên. Bên dòng kệ của
ngài Vạn Phong thì ngài được hiệu là Siêu
Bạch; bên dòng kệ của ngài Đạo Mân thì ngài
được hiệu là Nguyên Thiều. Lẽ đó xét có
phần đúng.
Nhưng lại thấy có chỗ chép ngài Đạo Minh
Huệ Nhật ở chùa Thiên Khai (Trung Hoa) xuất ra dòng kệ:
Đạo, Bổn, Nguyên... ấy, sau khi vừa mới thừa truyền theo dòng
kệ Tổ, Đạo, Giới... của ngài Vạn Phong chỉ có một đời. Bởi
vậy rất sai vì nếu nói ngài Đạo Minh xuất dòng
kệ ấy thì chữ "Nguyên" của ngài Nguyên Thiều không
phải là chữ "Nguyên" trong dòng kệ đó. Vì
đem những chữ trong hai giòng kệ kia ra mà đối chiếu thì
từ chữ “Nguyên” – Nguyên Thiều đến chữ "Siêu" - Siêu
Bạch - cách nhau đến 8 – 9 chữ (tức là 8 - 9 đời) làm
sao mà gặp nhau ở nơi một người được?
Có giải quyết được điều này, tức đối vấn đề: Vì
sao ngài lại truyền xuống cả hai dòng kệ ấy (hiện nay chùa
Quốc ân (Huế) thì theo dòng kệ chữ "Nguyên", tức
là dòng của ngài Đạo Mân; chùa Thập Tháp
(Bình Định) thì theo dòng kệ chữ "Siêu" tức là
dòng của ngài Vạn Phong) (?) Và trong hàng chữ
"Minh" và chữ "Thành" (Sau chữ Nguyên, chữ Siêu
một chữ) ai là đệ tử của ngài?
Như trên nói ngài đã thọ giáo
cả hai bên. Nên ở đây có thể nói: Một bên
ngài muốn truyền xuống dòng kệ chữ "Siêu" của Tổ Vạn
Phong. Một bên ngài muốn truyền xuống dòng kệ chữ "Nguyên"
của sư tổ mình. Bản ý đều muốn làm cho phái diễn
của tổ tiên khỏi phải đứt đoạn.
Chứng thật cho ý kiến này, ta nhận thấy bất kỳ ở
chùa Thập Tháp hay Quốc Ân, dưới ngài đều có
những ngài hoặc chữ "Minh" hoặc chữ "Thành" xen lẫn nằm trong
thế hệ.
Vậy còn ai là đệ tử của ngài Nguyên
Thiều? Theo thế hệ truyền thống ở chùa Thập Tháp và
Quốc Ân thì dưới ngài Nguyên Thiều, Siêu
Bạch, phần nhiều là những ngài nằm về chữ Minh cả. Như ngài
Minh Vật Nhất Tri, Minh Hoàng Định Nhiên, Minh Giác Kỳ
Phương, Minh Dung Pháp Thông, Minh Dương Nguyệt Ân v.v...
và có xen lẫn một đôi ngài nằm về chữ "Thành"
như ngài Thành Đẳng Minh Yêu, Thành Nhiên
Pháp Thông, v.v... Ngài các ngài ấy lại
có những ngài cũng là chữ "Minh" như ngài Minh
Hoằng Tử Dung (khai sơn chùa Từ Đàm- Huế), Minh Hành
Tại Toại (ở Nhạn Tháp Sơn - Bắc Kỳ), Minh Hải Pháp Bảo (khai
sơn chùa Chúc Thánh, Quảng Nam) v.v...
Theo tương truyền xưa nay thì các ngài vừa
mới kể trên đều là đệ tử của ngài Nguyên Thiều
cả (Vả xét theo thế hệ của hai dòng kệ thì dù
ngài chữ "Minh" hay chữ "Thành" cũng đều nằm dưới ngài
Nguyên Thiều một chữ cả). Nhưng nếu đứng ra ngoài tín
ngưỡng tập truyền, dùng quan điểm của nhà sử học mà
dò xét, thì không thể bảo các ngài
đó đều là đệ tử của ngài Nguyên Thiều cả.
Xét trong bài bia ký dựng ở chùa Quốc
Ân thì thấy chép: Ngài 19 tuổi xuất gia tu ở chùa
Báo Tư, thọ giới với ngài Khoáng Viên Hòa
thượng... Vậy sau khi ngài xuất gia, còn phải tu học 5, 7 năm
đã chứ! Lại trong bài bia ấy chép: "Niên hiệu
Cảnh Trị năm thứ ba đời Lê Hiến Tôn (năm Ất Tỵ thứ 7 đời chúa
Nguyễn Phúc Tần: 1665), ngài qua An-nam lập chùa Thập
Tháp (xem lại truyện ngài Nguyên Thiều)". Thế thì
khi ngài qua An-nam đại khái cũng trên 30 tuổi. Ngài
qua, trước hết ở phủ Quy Ninh lập chùa Thập Tháp; từ khi qua
đến khi lập thành chùa Thập Tháp, ít nữa cũng
phải trải qua thời gian mươi năm. Rồi sau ra Thuận Hóa ở chùa
Hà Trung, lên Xuân Kinh lập chùa Quốc Ân
cũng phải mất hết thời gian chừng trên 10 năm nữa: Cho đến khi phụng
mệnh đức Anh Tôn (1687-1691) trở về Trung Quốc, tìm thỉnh các
Danh Tăng về khai giới đàn tại chùa Thiên Mụ. Chỉ thấy
trong sử chép ngài Thạch Liêm cùng ngài
qua lúc này. Nhưng theo tương truyền xưa nay thì cùng
qua với ngài, ngoài ngài Thạch Liêm còn
có các ngài khác nữa, như ngài Tổ khai
sơn chùa Thuyền Lâm (Huế) v.v... với các ngài
Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo... (xét về thời đại của
các ngài qua cũng nhằm lúc ấy). Đến đây, hãy
trở lại với vấn đề: Vậy các ngài chữ "Minh" đồng qua với ngài
lúc này, có thể bảo đều là đệ tử của ngài
Nguyên Thiều cả không? E không thể bảo được. Bởi thời gian
ở Trung Hoa của ngài rất ít, mà thời gian ở An-nam thì
nhiều, làm gì đã có đệ tử xứng đức, xứng vị để
cùng qua với ngài ngồi trong địa vị Thập sư trên giới
đàn? Và trong sử chép ngài vâng mệnh vua
về thỉnh các Danh Tăng; nếu ngài chỉ bảo đệ tử của ngài
qua (giả sử ngài đã có đệ tử ở Trung Hoa), thế thì
ngài đã hẹp hòi và tỏ khinh thường hai chữ "Danh
Tăng" lắm ru ! Nên dù cho trong khi ngài qua cũng có
những vị đệ tử hoặc mới theo lúc ngài trở về, hoặc đã
theo lúc ngài chưa qua An-nam, nhưng thiết tưởng những vị ấy
cũng chỉ theo để hầu thầy chứ chưa có thể ngồi ngang một ghế Thập
sư trong giới đàn được, mà dù có cũng chỉ được
đôi ba vị thôi.
Vậy ta có thể bảo những ngài Minh Hoằng Tử Dung,
Minh Hải Pháp Bảo, Minh Hành Tại Toại... chỉ là những
ngài nằm dưới ngài Nguyên Thiều một chữ, gọi ngài
là sư thúc hoặc sư bá gì chớ chưa hẳn là
đệ tử của ngài cả.
Trong tấm bia đá dựng ở chùa Chúc Thánh
và trong quyển "Liệt Tổ truyện", có nói đến lược sử
của ngài Minh Hoằng cùng ngài Minh Hải, nhưng chỉ nói
qua ngài người Đại Thanh, qua An-nam, trác tích Thuận
Hóa, lập chùa Ấn Tôn (Từ Đàm); vô ở Quảng
Nam lập chùa Chúc Thánh, chớ không nói
đến hai ngài đó là đệ tử của ngài nào.
Vậy căn cứ vào đây, ta có thể cho lời bàn trên
là đúng chăng (?)
Có thể, sau khi giới đàn xong, ngài Minh
Hoằng mới tự do lập chùa Ấn Tôn ở Huế, ngài Minh Hải
lập chùa Chúc Thánh ở Quảng Nam và ngài
Minh Hành ra ở Nhạn Tháp Sơn, Bắc Kỳ. Trái lại nếu quả
là đệ tử, thì tình thầy trò đâu có
rã rời gấp gáp đến thế.
Tiếc rằng về những sử liệu này, sau một thời kỳ biến loạn
Tây Sơn, những cái có quan hệ đến lịch sử như giấy má,
bia ký đều bị thất lạc, không đủ giúp cho ta khảo xét
thêm được rõ ràng, chắc chắn hơn nữa.
- Thạch Liêm Hòa thượng: Ngài quê ở
Giang Tây nước Trung Hoa, học vấn uyên bác, bao nhiêu
món thiên văn, địa dư, toán số, cho đến nghề viết, nghề
vẽ, không thứ gì ngài không tinh xảo, lại có
sở trường về thơ phú. Cuối đời nhà Minh, nhà Mãn
Thanh làm chủ Trung Quốc, ngài không chịu ra làm
quan, bái từ mẹ già, cắt tóc đi tu, rồi vân du
khắp nơi. Khi Thọ Tôn Hòa thượng (Nguyên Thiều) vâng
mệnh chúa Nguyễn về Quảng Đông tìm các bậc Cao
Tăng, có nghe tiếng ngài liền đến mời ngài Trú
trì ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường mời
vào cung đàm đạo; sau ngài có lập chùa
Khánh Vân gần chùa Thiên Mụ. Ở được ít năm,
ngài xin trở về Trung Hoa không qua nữa.
Sau nhân có tàu buôn qua, ngài
có gởi dâng chúa Nguyễn một bức thơ xích độc và
một bài thi:
XÍCH ĐỘC
Nhất giang yên lãng, đạo cách trùng
vân,
Bát độ xuân quang, tuyết thiêm hoa mấn.
Sổ nhơn gian chi hạ lạp,
Ức thiên ngoại chi nhơn duyên;
Diêu tri cam điện bồ đoàn,
Dĩ chứng huỳnh mai tiêu tức.
Viên khiển độ giang chi vĩ,
Thiểu thân súc địa chi hoài.
Dạ nguyệt thông triều, trì lai viễn tín,
Tân thi ký tặng, quí phạp trường ngôn.
Dịch:
Trời bể muôn trùng,
Nước mây cách trở.
Xuân về mấy độ,
Làn tóc nửa sương.
Bấm tay nghĩ chuyện nhân gian,
Chạnh nhớ mối tình thiên ngoại.
Tưởng chừng dưới chiếc bồ đoàn,
Đã tỏ huỳnh mai lối cũ.
Thuyền lan tiện gió,
Thâu chỗ nhớ nhung.
Sóng vỗ trăng ghềnh,
Mây đưa tình nhạn.
Mấy lời quê cạn,
Tỏ chút u hoài.
THI VIẾT:
Đông phong tân lãng mãn giang tần,
Tưởng kiến hồ sơn vũ lộ tân.
Tự thị dương hòa qui thảo mộc,
Thái bình nhân túy hải thiên
xuân.
THƠ RẰNG:
Sóng rởn hoa tần phất gió đông,
Đỉnh hồ tưởng thấy hạt mưa nhuần.
Cỏ cây vui dưới trời êm diu,
Người ngắm thăng bình tắm bể xuân.
Ngài có làm tập "Ly Lục Đường thi", tập "Hải
ngoại ký sự" và bộ "Kim Cang trực sớ" còn lưu hành.
Thời ấy chúa Nguyễn đang trấn ở Thanh Hóa; phần
nhiều là người Chàm. Hai ngài này: Nguyên
Thiều và Thạch Liêm - là người rất có công
đem văn hóa và học thuật Trung Quốc khai hóa cho dân
ta xứ này.
- Tử Dung Minh Hoằng: Không rõ ngài
tên họ là gì chỉ biết ngài là đời thứ 34
Lâm Tế; quê ở Quảng Đông theo ngài Nguyên
Thiều qua An-nam ở Thuận Hóa có lập chùa Ân Tôn
(tức chùa Từ Đàm, Hội Quán hội Phật học bây giờ).
PHÁI LIỄU
QUÁN
- Liễu Quán Hòa thượng: Ngài họ Lê,
húy Thiệt Diệu, người làng Đạo Mã, huyện Đồng Xuân,
tỉnh Phú Yên (Sông Cầu bây giờ). Lúc 6 tuổi,
mồ côi mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn thọ giới với ngài
Tế Viên Hòa thượng(5). Được bảy năm thì Hòa thượng
tịch, ngài ra Thuận Hóa xin học với Giác Phong Lão
tổ(6) chùa Báo Quốc. Sau đó một năm, năm Tân Mùi(1691),
ngài phải về phụng dưỡng cha già, lấy nghề kiếm củi độ nhật.
Bốn năm sau phụ thân mất, năm Ất Hợi (1695) ngài lại trở ra
Thuận Hóa thọ Sa-di giới với ngài Thạch Liêm Hòa
thượng. Năm Đinh Sửu (1697) ngài lại thọ Cụ túc giới với ngài
Từ Lâm Lão Hòa thượng (cũng là người Trung Hoa,
một ngài nay còn ở chùa Từ Lâm gần nhà
máy nước ở Huế).
Bắt đầu năm Kỷ Mão (1699), ngài đi tham lễ khắp
thiền lâm, chịu biết bao điều khó khăn, đạm bạc. Đến năm Nhâm
ngọ (1702) ngài đến Long Sơn vào bái Yết Tử Dung Hòa
thượng cầu dạy pháp tham thiền. Hòa thượng dạy ngài
tham câu: "Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ?" (Muôn
pháp về một, một về chỗ nào?)
Ngài ngày đêm tham cứu 8, 9 năm mà
chưa lãnh hội, trong lòng tự lấy làm hổ thẹn.
Một hôm, nhơn đọc truyện Truyền đăng lục đến câu:
"Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ?" thoạt nhiên ngài
được tỏ ngộ. Nhưng vì núi sông cách trở, ngài
không thể đến ngài Tử Dung để trình ngộ được.
Đến năm Mậu Tý (1708), mùa xuân ngài
mới trở ra Long Sơn, cầu Hòa thượng ấn chứng. Khi ấy ngài đem
chỗ công phu của mình, mỗi mỗi trình bày, đoạn
ngài nói đến câu "chỉ vật truyền tâm, nhân
bất hội xứ". Hòa thượng liền nói:
Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương,
Tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc.
(Phải bước ra bờ vỡ mà buông tay, chết sông
tự mình chịu lấy, ngất đi mà sống lại mới khỏi bị người dối
gạt). Liền đó ngài vỗ tay cười ha ha...
Hòa thượng nói:
- Chưa nhằm
Ngài Liễu Quán nói:
- Bình thùy nguyên thị thiết.
(Trái cân vốn là sắt)
Hòa thượng nói:
- Chưa nhằm.
Mai lại, Hòa thượng gọi ngài đến bảo: "Chuyện ngày
qua chưa xong, nói lại xem!"
Ngài Liễu Quán nói:
- Tảo tri đăng thị hỏa, phạn thục dĩ đa thì
(Sớm biết đèn là lửa, cơm chay đã lâu
rồi!)
Bấy giờ Hòa thượng rất khen ngợi.
Năm Nhâm Thìn (1712), mùa hạ, Hòa thượng
vào Quảng Nam dự lễ Toàn Viện (?), ngài đem trình
bày kệ dục Phật.
Hòa thượng liền hỏi:
- Tổ Tổ tương truyền Phật Phật thọ thọ,
Vị thẩm truyền thọ cá thậm ma?
(Các vị Tổ nói truyền cho nhau, đức Phật này
trao cho đức Phật khác, chẳng hay truyền thọ những cái gì?)
Ngài Liễu Quán nói:
- Thạch duẫn trừu điều trường nhất trượng,
Qui mao phất tử trọng tam cân.
(Búp măng trên đá dài một trượng,
Phủ phất lông rùa nặng mấy cân).
Hòa thượng nói theo:
- Cao cao sơn thượng hành thuyền
Thâm thâm hải để tẩu mã
(Lung linh nước chảy trên đèo,
Ngựa đua dưới biển, thuyền chèo trên non)(7).
Ngài tiếp theo nói:
- Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống,
Một huyền cầm tử tận nhật đờn.
(Dây đứt đờn cầm rung suốt buổi,
Gảy sừng trâu đất rống thâu đêm).
Ngài biện tài lanh lẹ, lâm cơ ứng biến, như
nước và sữa rất là phù hợp. Hòa thượng rất lấy
làm vui mừng, ấn khả.
Lại chỗ hóa duyên của ngài rất rộng, ngài
thường ra vào Huế - Phú Yên để hóa đạo luôn
luôn, không nề khó nhọc.
Năm Quí Sửu (1733), Giáp Dần (1734) và Ất
Mão (1735), ngài chịu lời thỉnh cầu của các ngài
trong Tôn môn, cùng các bậc tể quan, cư sĩ ở Huế,
dự bốn lễ lớn về đại giới đàn.Qua năm Canh Thân (1740) ngài
tấn đàn Long Hoa phóng giới, rồi đó ngài trở
về chùa Thiền tôn.(8).
Thời ấy Nguyễn Chúa Ninh Vương rất yêu mến đạo đức
của ngài, thường mời ngài vào cung để đàm đạo,
nhưng ngài vẫn từ chối không vào.
Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742), ngài
lại dự lễ giới đàn ở chùa Viên Thông. Cuối mùa
thu năm ấy ngài thị bịnh, gọi môn đồ đến mà dạy rằng:
"Nhân duyên đã hết, ta sắp chết vậy". Khi ấy môn
đồ đều khóc, ngài dạy rằng : "Các người khóc
mà làm gì? Các đức Phật ra đời còn nhập
Niết-bàn; ta nay đi lại rõ ràng, về tất có chỗ,
các người không nên khóc và đừng nên
buồn thảm lắm".
Cuối tháng 2, trước khi tịch mấy ngày, ngài
ngồi dậy vững vàng, tự cầm bút viết bài kệ từ biệt rằng:
Thất thập dư niên thế giới trung,
Không không sắc sắc duyệt dung thông.
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,
Hà tất bôn man vấn tổ tông.
Dịch:
Ngoài bảy mươi năm trong thế giới,
Không không sắc sắc thảy dung thông.
Ngày nay nguyện mãn về nơi cũ,
Nào phải ân cần hỏi tổ tông.
Sau khi ngài viết bài kệ xong, ngài bảo môn
đồ rằng: "Sau khi ta đi, các người phải nghĩ cơn vô thường nhanh
chóng, cần phải siêng năng tu học trí tuệ, các
người hãy nên gắng tới, chớ bỏ quên lời ta".
Đến ngày 22 tháng 2 ta, buổi mai, sau khi dùng
nước trà và các đồ đệ hầu chuyện cùng làm
lễ xong, ngài hỏi đến giờ, các đồ đệ thưa: giờ Mùi.
Thế rồi... ngài vui vẻ thị tịch.
Vua nghe tin, sắc ban bia ký, và tứ hiệu là
"Đạo Hạnh Thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng".
Ngài là đời thứ 35 giòng Lâm Tế chánh
tôn, khai sơn chùa Thiên Thai Thiền Tôn ở Huế.
Ngài có tục bài kệ về Pháp phái
rằng:
Thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng.
Tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong.
Giới định phước huệ, thể dụng viên thông.
Vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công.
Truyền trì diệu lý, diễn sướng chánh tôn.
Hạnh giải tương ưng, đạt ngộ chơn không.
Dịch:
Đường lớn thực tại, biển thể tính trong,
Nguồn tâm thấm khắp, gốc đức vun trồng.
Giới định cùng tuệ, thể dụng viên thông,
Quả trí siêu việt, hiểu thấu nên công.
Truyền giữ lý mầu, tuyên dương chính tông,
Hành giải song song, đạt ngộ chân không.
(Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử lược, tr. 603)
Ngày nay, Tăng đồ tín đồ ở Trung kỳ và Nam
kỳ hầu hết là thuộc về dòng Lâm Tế, mà ngài
là người có công khai hóa hơn hết, hiện đã
thành ra một nhánh lớn gọi là Liễu Quán.
Kể ra Phật giáo về thời chúa Nguyễn này,
ngoài mấy ngài chép trên, còn có
nhiều bậc Cao Tăng khác nữa, chẳng qua phải một thời gian biến loạn
Tây Sơn,chùa chiền hư nát; những cái có
thể lưu lại làm sử liệu cho ngày nay, đều bị tiêu tan
mất hết. Nên bây giờ người nghiên cứu lịch sử tìm
được dấu tích để ghi lại phương danh và thế hệ của các
ngài cũng đã khó, huống tìm cho rõ tiểu
truyện của mỗi ngài lại càng khó hơn nữa. Mà
cái điều sau này ta có thể nói: chỉ là
sự may mắn của lịch sử. Hai ngài dưới này cũng là Danh
Tăng trong thời Nguyễn Chúa:
- Trung Đình Hòa thượng: Ngài không
biết người ở đâu, tên gì vì thường trú ở
trong đình, nên người ta gọi tên ấy. Ngài thường
đi khất thực các làng, trong mình thường đeo ba cái
bị. Một cái nếu ai cho cá thịt gì cũng lấy bỏ vào
đó rồi cho kẻ ăn xin khác; một cái đựng món ăn
chay ngài dùng; còn một cái lớn để không,
hễ tới đâu thì ngài treo lên mái đình
mà ngồi vào. Đêm thì trì tụng, ngày
thì lang thang khắp nơi trông hình dung nhớp nhúa,
tóc xù, áo quần không có phải đóng
khố, trẻ con trông thấy đều sợ hãi (cái danh từ "ông
ba bị" để dọa trẻ con có từ thời ấy - khoảng đời chúa Nguyễn
Phúc Thuần (1765-1777).
Khi tu hành đã đắc đạo, ngài tâu xin
lập hỏa đàn ở chùa Thiên Mụ, bố cáo cho thiên
hạ biết. Khi mọi người xin ngài lưu lại cho một chút di thể,
thì ngài đưa lên một ngón tay. Khi đốt, lửa bốc
theo gió lệch cái mũ Quan âm của ngài đội do vua
ban, ngài lấy tay sửa lại, miệng luôn luôn tụng kinh.
Người đi xem đông như kiến, giành nhau lấy trầm hương liệng
vào hỏa đàn. Thiêu xong, quả nhiên còn một
ngón tay không cháy. Người ta nhặt tro ấy xây tháp
thờ ở bên chùa Thiên Mụ.
Bấy giờ ngài Pháp Vân Hòa thượng có
tặng ngài bài thơ rằng:
Kỷ niên y bát ký phong trần,
Đốn ngộ thuyền cơ nguyện hóa thân.
Mộng huyễn hình hài túng liệt diệm,
Sắc không tâm sự phú yên vân.
Thần thê Tây độ niên niên tại,
Danh bá thuyền môn nhật nhật tân.
Kim cổ nhàn khan đàm tiếu lý,
Bất tri như thử hữu hà nhân?
Dịch:
Phong trần lẫn bấy nhiêu năm,
Ngộ được cơ thuyền chết cũng cam.
Ngọn lửa đột tàn thân ảo mộng,
Làn mây bay với niệm từ đam.
Tinh thần phảng phất miền Tây độ,
Danh tiếng vang lừng đất Việt Nam.
Dở chuyện xưa nay xem lại thử,
Những người như thế có bao lăm?
- Bùi Đăng Tường: Ngài người tỉnh Quảng Nghĩa, huyện
Bình Sơn; năm 12 tuổi đầu thuyền tại chùa Phổ Phước. Ngài
tu hành rất chân chánh, trì giới rất tinh nghiêm.
Vua tặng chức Hòa thượng và ban pháp hiệu là
Long Kỳ Đại Sư.
Khoảng năm Quý Tỵ (1773) đời chúa Nguyễn Phúc
Thuần (1765 - 1777) (sau truy tôn Duệ Tôn Hoàng Đế), bị
giặc Tây Sơn xướng loạn, ngài bèn lén vào
kinh sư chịu mật chỉ về nhóm họp các Tăng đồ, chiêu mộ
nghĩa dõng, đồng lòng dẹp giặc. Vua phong cho ngài làm
chức "Khâm Sai Vệ Quốc Soái". Sau ngài cùng với
giặc đánh nhau tại Quảng Nam vừa mất.
Dưới đây là những việc làm của Nguyễn chúa
trong thời này:
Năm Tân Sửu thứ 14 (1601) đời chúa Nguyễn Hoàng
(sau truy tôn Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế) dựng nên
chùa Thiên Mụ(9). Tục truyền: "Trước đó dân quanh
vùng có thấy một bà già mặc áo đỏ, ngồi
trên cái đồi đất ấy, nói rằng: rồi đây sẽ có
một vị chân chủ đến cai trị, lập chùa ở đây để cho tụ
linh khí, vững bền long mạch". Nói xong, bà già
biến mất. Sau chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa,
nhân dân thường gọi là chúa Tiên, nghe chuyện
ấy liền lập chùa và đặt tên là Thiên Mụ
(nghĩa là bà già linh thiêng ở trên trời).
Năm ất Tỵ (1665), năm thứ 17 đời chúa Nguyễn Phúc
Tần (1648 - 1687) (sau truy tôn Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng
Đế), sắc sùng tu chùa Thiên Mụ. Nhưng nhất là
đến đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) (sau truy tôn
Hiền Tôn Hiếu Minh Hoàng đế), chùa Thiên Mụ mới
hoàn thành.
Vua là người rất sốt sắng cùng đạo Phật, trong một
thời gian dài ở ngôi, biết bao nhiêu chùa tháp
bởi vua dựng nên hay sửa lại. Sử chép về khoảng vua sùng
tu chùa Thiên Mụ rằng:
"Năm Canh Dần thứ 19 (1710), đời chúa Nguyễn Minh Vương,
mùa hạ tháng tư, sau khi trùng tu chùa Thiên
Mụ xong rồi, vua sắc đúc một quả chuông lớn nặng 3.285 cân.
Chuông ấy hiện nay hãy còn, khắc đề năm Canh Dần (1710)
vào khoảng Vĩnh Thạnh (1705-1719 ) đời vua Lê Dũ Tôn năm
thứ 6 (1710)".
Năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Thạnh Lê Dũ Tôn, vua
Nguyễn Minh Vương lại gởi mua bên Trung Hoa ba Tạng Kinh, Luật, Luận,
đem về để ở chùa.
Vào khoảng năm 1738-1744, Võ Vương Nguyễn Phúc
Hoạt sắc trùng tu chùa Thiên Mụ rất là tráng
lệ và sai người qua Trung Hoa thỉnh Đại Tạng kinh hơn 1.000 bộ về
để tại chùa. Võ Vương là người mộ đạo, ngài tự
hiệu là "Thiên Túng đạo nhân".
Xem vậy đủ thấy Phật giáo ở thời này lại có
cơ phục hưng. Lại nhận thấy một điều: trước ngài Liễu Quán
thì phần nhiều các Thiền sư ở đàng trong là người
Trung Hoa cả. Xét ngay sử Trung Hoa thì bấy giờ (đời chúa
Nguyễn Phúc Hoạt) (1738 - 1765) vua Trung Hoa là Thanh Cao
Tôn (tức Càn Long) (1736 -1785).
Lại xét Phật giáo sử của Trung Quốc thấy chép:
"Một đời nhà Thanh, vua Thái Tổ, vua Cao Tôn hết sức
phục hưng Nho giáo, đối với Phật giáo tuy có ý
bảo hộ, nhưng không được chu đáo lắm. Còn về Lạt Ma giáo
thì giữ theo chánh sách nhà Nguyễn". Lại chép:
"Đương thời tuy vẫn có các tôn: Hoa Nghiêm, Thiên
Thai, Mật, Thiền, Pháp tướng, Tịnh độ v.v... nhưng thật Tăng đồ ít
ai thấu hiểu đốn giáo lý, vì Phật giáo đã
tới thời đại suy đồi rồi"(10).
Phật giáo ở Trung Quốc bấy giờ suy đồi cũng là bởi
trong nước không yên, suốt một đời vua Càn Long, chẳng
mấy lúc được thái bình. Những bậc Cao Tăng thấy Tăng
đồ trong nước ngày một suy đồi, nên mới đi sang nước ta để giáo
hóa.
Cứ xem khắp giải Trung kỳ ngày nay, có bao nhiêu
chùa còn di tích, rất nhiều là của các
Thiền sư người Trung Hoa lập ra, thời đủ biết tình hình Phật
giáo thời ấy.
Trong triều Nguyễn chúa, lại có mấy lần đi cầu kinh,
đều không đủ Ba tạng, nhưng cũng còn bù được chút
ít vào số kinh sách đã bị nhà Minh tịch
thu.
PHẬT GIÁO
TRONG THỜI KỲ CẬN ĐẠI (TRIỀU NGUYỄN)
Sau đó, Nam triều có vua Tây Sơn nổi lên
chúa Nguyễn bị mất quyền. Trong mấy năm trời việc chính trị
trong nước bị rối ren, ngoài Bắc chúa Trịnh cũng không
giữ ngôi cho nhà Lê được nữa. Vua Chiêu Thống phải
chạy sang Trung Hoa, vua Tây Sơn thống nhất thiên hạ.
Không bao lâu, chúa Nguyễn Phúc Anh
mượn quân Pháp về diệt được Tây Sơn và lập nên
nhà Nguyễn nhất thống, lấy niên hiệu là Gia Long.
Từ lúc vận nước thay đổi, Phật giáo cũng bắt đầu
đình đốn và lần đến suy đồi, vì bị trải qua một trận
chiến tranh với Tây Sơn, chùa chiền bị phá hủy, Tăng
chúng loạn lạc, nên dù sau khi đã bình
định, cũng chỉ còn lại những cảnh tượng sơ sài mà thôi.
Từ đây trở đi trong lịch sử không thấy chép gì
để căn cứ một giai đoạn vẻ vang cho lịch sử Phật giáo nữa. Dưới đây
là những việc của nhà vua đối với Phật giáo:
Niên hiệu Gia Long năm Ất Hợi (1815), vua sắc sửa lại chùa
Thiên Mụ và triệu ngài Mật Hoằng vào kinh cấp
bằng Tăng Cang. (Ngài người Bình Định, sau khi xuất gia, lưu
ngụ các miền trong tỉnh Gia Định. Sau ngài có Trú
trì ở chùa Quốc Ân-một người rất có công
lớn ở chùa Quốc Ân).
Năm Minh Mệnh thứ bảy (1826), sắc lập lại chùa Thánh
Duyên (nguyên chùa Thánh Duyên dựng vào
đời Nguyễn Chúa Nguyễn Phúc Chu, sau truy tôn Hiển Tôn
Hiếu Minh Hoàng Đế (1691 - 1725), sau bị Tây sơn phá
hủy (chùa ở gần cửa bể Tư Hiền, Thừa Thiên). Năm thứ II (1822)
vua sắc các nhà sư ở ngoại tỉnh đến kinh, do bộ Lễ xét
rồi ban cấp Độ điệp.
Năm Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị thứ tư (1844)
vua vâng di chúc của đức Minh Mạng, sắc xây ở chùaThiên
Mụ một ngôi tháp lớn 7 tầng gọi là Từ Nhơn tháp,
năm sau đổi lại là Phước Duyên bảo tháp. Cũng trong niên
hiệu ấy, vua sắc lập chùa Diệu Đế (chỗ này nguyên xưa
là một khuôn vườn của một người về dòng Thích-lý,
tương truyền sau là phủ ngài ở, sau khi lên ngôi
ngài đổi phủ làm chùa). Niên hiệu Tự Đức thứ ba
(1849), nghị chuẩn các quan tự (chùa công) như Thiên
Mụ, Giác Hoàng v.v... mỗi nơi đều phải có Tăng Cang
một ngài để chỉ huy Tăng chúng, trông nom chùa,
đều có lương bổng chi cấp. Năm thứ bảy (1853) tháng 12, vua
sắc cấp công điền cho các chùa tại kinh như: Thiên
Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, Linh Hựu, Long Quang, và các
chùa ngoài kinh như Tam Thai, Ứng Châu (Quảng Nam), Khai
Tường (Gia Định).
Ngoài ra các khoản sắc về cúng lễ như rằm
Trung thu, Thánh Thọ, Vạn Thọ v.v... rất nhiều.
CÁC VỊ DANH TĂNG TRIỀU NGUYỂN
- Phổ Tịnh Hoà thượng: Ngài húy là
Đạo Minh thụy Viên Nhất, người Quảng Nam. Niên hiệu Gia Long
thứ bảy (1898) vâng sắc lệnh bà Hiếu Khương Hoàng Thái
hậu Trú trì ở chùa Thiên Thọ (tức Báo Quốc
bây giờ). Ngài tịch vào năm Gia Long thứ 15 (1816).
- An Thuyền Đại sư: Không rõ ngài tên
họ là gì, chỉ biết ngài ở chùa Đại Giác
Bồ Sơn (thuộc tỉnh Bắc Ninh), ngài tu hành tinh tấn, học hạnh
kiêm toàn. Vào khoảng niên hiệu Minh Mệnh thứ 6
đến thứ 9 (1825 -1828), ngài có làm bộ sách "Đạo
Giáo nguyên lựu" ba quyển, được lưu hành.
- Nhất Điện Hòa thượng: Ngài húy Tánh
Thiên người Quảng Trị. Ngài đồng niên xuất gia thế độ
với Hòa thượng Phổ Tịnh, thọ giới với Hòa thượng Mật Hoằng.
Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), ngài sung chức Trú trì
chùa Linh Hựu, ngài cố từ không được; năm thứ 20 ngài
lại được sắc thăng chức Tăng Cáng chùa Giác Hoàng.
Niên hiệu Thiệu Trị thứ ba (1843), ngài xin phép từ chức
dưỡng lão, ngài có đắc ý hai câu:
Hạnh phùng tấu đắc nhưng hồi lão,
Nhất bát cô thân vạn lý du.
(Già rồi, may được vua thương,
Một thân, một bát, rộng đường vân du).
(Nguyễn Lang dịch, sđd, tr. 697).
Sau ngài có làm am An Dưỡng để ở (sau khi
ngài tịch, Thái Giám viện dựng chùa gọi là
Từ Hiếu, tức Từ Hiếu bây giờ). Ngài tịch vào năm Thiệu
Trị thứ bảy (1847), thọ 64 tuổi.
- Diệu Giác Hòa thượng: Ngài họ Đỗ, húy
Hải Thuận, người làng Bích Khê (Quảng Trị), 13 tuổi vào
chùa Báo Quốc, 20 tuổi thế độ thọ giới với ngài Bản
Giác Hòa thượng. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), được ban cấp
Giới đạo Độ điệp, và được ngài Nhất Điện truyền pháp
cho. Ngài đã có làm Trú trì, Tăng
Cang chùa Diệu Đế, đứng trùng tu chùa Huệ Lâm,
chùa Báo Quốc và chùa Kim Tiên. Năm Thành
Thái thứ 6 (1895), ngài mở Đại Giới đàn ở chùa
Báo Quốc. Đến năm sau thì ngài tịch, thọ 91 tuổi. Đệ
tử đắc pháp của ngài là ngài Tâm Quảng,
Tâm Thể, Tâm Truyền, Tâm Tịnh v.v...
- Giác Ngộ Hòa thượng: Ngài tự hiệu là
Sơn Nhân, người tỉnh Gia Định. Nguyên trước đi làm việc
quan đập đá xây thành; một hôm phá trong
viên đá thấy một tượng Phật, ngài liền xin thôi
việc, mang tượng vào rừng không giao thiệp với người đời nữa
và không ai biết đi đâu. Được ít lâu, người
tỉnh Phú Yên thoạt thấy Sơn Nhân ở trong chùa hang
xóm núi. Xóm ấy có nhiều cọp, người trong xóm
lập chùa mà không dám đến lễ. Lúc thấy
Sơn Nhân ở đó ai cũng thất kinh, hỏi ngài sao không
sợ cọp ?
Ngài đáp: Cọp mặc cọp, mình mặc mình,
cần gì mà sợ?
Người thường ăn rau cỏ không dùng gạo cơm. Một khi
có dịch khí nổi lên ở các nơi người chết rất nhiều,
người trong xóm xin ngài cầu đảo cho nên được yên.
Họ đem việc ấy trình quan. Vừa lúc ấy quan Tuần trong tỉnh
có người con đau bụng, thầy thuốc chữa không khỏi. Quan liền
khiến hai viên đội đi mời Sơn Nhân. Ngài hỏi:
- Tỉnh ở ngã nào?
Họ chỉ về hướng đông. Ngài bảo họ đi trước. Hai viên
đội cưỡi ngựa về tỉnh thì đã thấy ngài đến rồi. Quan
mời ngài vào thăm bệnh cho con, ngài liền đọc một câu
chú, thình lình nghe một tiếng sạt, và thấy như
một cái bóng tấm lụa từ trong buồng vụt ra, tức thì
con quan lành bệnh. Quan tỉnh đem việc ấy tâu về triều; vua
Minh Mệnh sắc triệu ngài về nội, hỏi việc đầu đuôi, vua thưởng
rất hậu, ngài đều từ tạ không lấy. Vua khen rằng:
- Người xưa có nói:
Thuần nhất bất tạp là "Hòa",
Vạn loại xưng tôn là "Thượng".
Sơn Nhân thật đúng hai chữ ấy.
Liền ban hiệu là Sơn Nhân Hòa thượng. Lại
sắc các vị Hòa thượng các chùa phải đổi hiệu
Tăng Cang, để tỏ rằng còn thua Hòa thượng một bậc (từ đó
danh hiệu Hòa thượng mới là danh hiệu đặc biệt, ít người
được nhậm chức đó).
Sơn Nhân mặc quần áo toàn bằng vỏ cây,
lấy hai miếng gỗ làm guốc mà đi mau lắm. Vua sắc ngài
ở chùa Giác Hoàng, nhưng được một tháng ngài
tâu xin về núi: sau không biết ngài đi đâu.
Ngoài ra còn thấy sử chép mấy vị Thiền sư
nữa, như: Liễu Tánh Thiền sư, Phước Chỉ Hòa thượng, Giác
Minh Hòa thượng, Tống Thị Ni cô đều là những bậc tu hành
đắc đạo.
Xét về những điều kiện tín ngưỡng của các
nhà vua và những bậc tu hành tuy các ngài
vẫn tu hành đạo đức - như trên đã kể, ta có thể
biết ngay Phật giáo về đời triều Nguyễn này đã sơ sài
lắm.
Trải các triều vua, nhất là triều vua Thiệu Trị,
ngài là một ông vua hết lòng sùng phụng
và rất sốt sắng với đạo Phật. Những sự nghiệp xây dựng cho Phật
giáo về thời này, ngài là người đáng cho
ta chép vào lịch sử hơn hết. Nhưng thật ra Phật giáo
về thời này đã kém lắm rồi, nên dù các
triều vua vẫn tín ngưỡng sùng phụng, làm chùa
đúc tượng mà tinh thần Phật giáo vẫn suy.
Đến đây, từ trên vua quan cho đến thứ dân, ai
ai cũng an trí đạo Phật là ở sự cúng cấp cầu đảo chứ
không biết gì khác nữa. Và phần đông họ
chỉ trọng ông thầy ở chỗ danh vọng chức tước, mặc dù ông
thầy ấy thiếu học thiếu tu. Bởi tệ hại ấy, làm cho Tăng đồ trong nước
lần lần sa vào con đường trụy lạc cờ bạc rượu chè, đắm trước
thanh, sắc.. Tuy vậy, ở miền Trung ương Bắc kỳ về kỷ luật Tăng-già
bề ngoài còn giữ được nghiêm chỉnh đôi chút,
chứ như Trung kỳ phần nhiều thì họ đã có vợ có
con một cách công nhiên, không còn áy
náy, nhất là Nam kỳ ông thầy, bà vải lại càng
hỗn độn hơn nữa. Cũng vì tình trạng ấy mà tạo nên
hại lớn ngày nay, đến nỗi gần 15 năm lại đây, hiện tượng suy
đồi ấy càng biểu diễn đến chỗ đồi bại; phần đông Tăng đồ chỉ
nghĩ đến danh vọng, chức tước : xin bằng Tăng Cang, Trú trì,
Sắc tứ v.v... một phương diện khác thì chỉ biết cúng
cấp, cầu đảo, phù chú (phù chú đã thành
phù thủy hóa) làm tay sai cho các nhà
vua chúa, quan quyền, phú hộ, thay vì họ cầu đảo cúng
cấp để làm kế sinh nhai, hoặc phải chăm việc đồng áng có
thể nuôi sống hằng ngày; còn một hạng nữa chỉ giữ mình
cho được thanh nhàn, ăn chơi tiêu khiển bảo là giải thoát...
Ôi ! Tinh thần Phật giáo đến đây hầu đã tuyệt diệt?
Bởi vậy các cảnh chùa trong nước đã thành
những cảnh gia đình riêng, không còn gì
là tính cách đoàn thể của một tôn giáo
nữa. Họ sống trong Phật giáo hầu hết chỉ còn dốt và
quên! Quên để khỏi phải biết đến bổn phận - bổn phận chơi chánh
của một Tăng đồ!
Ở trong Tăng đồ thì như vậy, ở ngoài tín
đồ cư sĩ thì cũng ngơ ngác ù òa, tin bướng theo
càn, ít ai là người hiểu đạo lý.
Trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam, ta có thể đánh
vào đây một dấu than (!) rất to tướng.
PHẬT GIÁO
HIỆN ĐẠI
Tuy nhiên, ít năm trước ở Bắc cũng có Cụ tổ
Vĩnh Nghiêm (Thanh Hanh), sư cụ Tổ Các (Phan Trung Thứ), sư
cụ Bằng Sở (Dương Văn Hiển); ở Trung có ngài Tâm Tịnh,
ngài Huệ Pháp, ngài Phước Huệ; ở Nam có ngài
Khánh Hòa thỉnh thoảng mở trường giảng dạy. Nhờ vậy, đạo pháp
cũng còn lưu lại ảnh hưởng chút ít.
Lại cách đây trên 10 năm, nhờ ảnh hưởng chấn
hưng Phật giáo ở Trung Hoa mà nước ta lại có phong trào
vận động chấn hưng Phật giáo. Những người khởi xướng đầu tiên
là ngài Khánh Hòa và sư Thiện Chiếu (sau
vì trong công việc vận động phải bị nhiều trở lực, ngài
Thiện Chiếu đã tức giận bỏ về tục) cùng các ngài
Tăng-già, cư sĩ khác lập thành Nam kỳ nghiên cứu
Phật học hội (1931) ở Nam. Rồi lần đến Trung kỳ có ngài Giác
Tiên, ông Lê Đình Thám (cư sĩ) ban đầu mở
đạo trường ở chùa Trúc Lâm, mời ngài Phước Huệ
chùa Thập Tháp - Bình Định làm chủ giảng; sau
lần đến nhóm cư sĩ lập thành Phật học hội (1932); ở Bắc có
sư Trí Hải cùng cụ Nguyễn Năng Quốc và các ngài
Đại đức, cư sĩ khác lập Bắc kỳ Phật giáo Tổng hội (1934).
Ba miền đều có mở đạo trường cả, ở Bắc có trường
Tăng ở chùa Quán Sứ, trọng Ni ở chùa Bồ-đề đo Bắc kỳ
Phật giáo hội tổ chức; ở Trung có Phật học viện ở chùa
Tây Thiên, đầu tiên do các thầy Đại đức và
một nhóm thanh niên trong Sơn môn tổ chức, hiện nay đã
giao lại cho toàn thể Sơn môn quản cố; lại có Phật học
viện ở chùa Báo Quốc do Phật học hội tổ chức, duyên khởi
thành lập đầu tiên là thầy Giảng sư Mật Khế, và
trường Ni ở chùa Diệu Đức do một nhóm nữ cư sĩ tổ chức; trong
Nam thì có Phật học viện do hội Lưỡng Xuyên Phật học
Trà Vinh tổ chức.
Ngoài ra, hội nào cũng xuất bản tạp chí để
hoằng dương Phật pháp; ở Nam có báo Từ Bi âm,
Duy Tân; ở Trung có tạp chí Viên âm; ở Bắc
có báo Đuốc Tuệ .v..v Thỉnh thoảng lại có một vài
vị sư trí thức và những nhà cư sĩ, học giả ở ngoài
cũng viết sách truyền bá Phật lý...
Nói tóm lại thì Phật giáo hiện thời
đã có phần chấn hưng. Nhưng có một trở lực mà
chưa có Hội nào hay một Sơn môn nào giải quyết,
là: Cổ động thì hội nào cũng cổ động bằng Quốc văn là
nền văn phổ thông, nhưng kho kinh điển triết lý nhà Phật
vẫn còn nguyên khối bằng Hán văn .Vả dấu tích
đồi bại điêu tàn của ngày qua, hiện nay vẫn còn
lưu hành lại rõ rệt và có thế lực. Nên
thật ra cả mấy hội Phật học ấy ngoài mấy việc xây hội quán,
làm chùa và cổ động một số đông người quy y, còn
chưa hội nào làm được việc gì vĩ đại có vẻ đỉnh
cách cho nền Phật giáo cả.
Trong lúc này, đại đa số Tăng đồ trong các
Sơn môn vẫn đương mơ màng thiêm thiếp, chưa làm
một việc gì tỏ rõ là người đã thức tỉnh. Cho
nên tuy hiện giờ có phong trào chấn hưng mà kỳ
thực mới là chấn hưng hình thức và danh hiệu.
Một nền Phật giáo chỉnh đốn, in tuồng đương đợi một cuộc
tổ chức tương lai do một phương pháp cải tạo hoàn toàn
chơn chánh.
Chúng tôi rất mong...
Trở về trang chính